|
Từ sau tháng Tư năm 1975, với một đất nước thân yêu phải rời bỏ để ra đi, sống cuộc đời luân lạc nơi xứ người vì hai chữ Tự Do; với một quê hương xa cách nghìn trùng mà mỗi ngày không thể không vọng về, nhớ đến; mỗi người Việt Nam đang ở đâu đó trên khắp cùng nới chốn trên đất khách quê người đều cùng mang nặng trong long một nỗi hoài quốc không nguôi. Trong tâm hồn mỗi người Việt Nam xa xứ những chữ TÌNH YÊU và QUÊ HƯƠNG tưởng chừng như đã được khắc đậm, in sâu, mà không một hoàn cảnh nào, động lực nào có thể mờ phai… Hơn nữa tình yêu đối với Quê Hương còn là nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn, nơi những người việt Nam vẫn dấn thân một phần đời vào cuộc sống văn học nghệ thuật. Những “Quê Hương Vĩnh Cửu Tình Yêu” của Dương Huệ Anh, “Quê Hương và Người Tình” của Lê Thị Như Ýø, “Quê Hương Tôi và Tình Yêu” của Yên Sơn; mà người viết bài này có cơ hội đọc được, là một bằng chứng. Mỗi tựa đề của từng tác phẩm văn học đó đều được hàm xúc một nội dung muốn nói đến, mà người đọc có thể hình dung ra được không mấy khó khăn. Đó là những nội dung đầy ắp tình cảm nghĩ đến, nhớ về, những hoài niệm lại quá khứ nơi đất tổ, quê cha; những bày tỏ, phẫn nộ, xót xa về bao oan khiên, khổ lụy đang đẩy đất nước vào sự đói nghèo, cùng khốn, từ gần ba mươi năm qua dưới chính thể bạo lực, độc tài; và trên hết vẫn là niềm băn khoăn, ray rứt nghĩ đến những phương cách khả thi, mong có hoàn cảnh để quang phục lại xứ sở non sông.. Mức độ diễn đạt tấm lòng đối với Tổ Quốc, Quê Hương ở mỗi tác giả mỗi khác nhau, nhưng những nội dung tác phẩm văn học đó đều được phơi trải – nói riêng về thi ca – qua những câu thơ đầy ấp chân tình, ngùn ngụt thiết tha, không vẽ vời, không cường điệu, bộc lộ từ tâm hồn và trái tim, thật đáng trân trọng biết bao! Mức độ diễn đạt tấm lòng đối với Đất Nước, Xứ Sở đang nghìn trùng xa cách ấy, đã có lần làm tôi sững sờ, ngạc nhiên. Đó là khi tôi đọc được “Người Tình Quê Hương” của Quốc Nam. Tôi không giấu diếm tình cảm đặc biệt đối với nhà thơ này, không phải vì anh kiên trì, miệt mài với sự nghiệp thi ca từ gần bốn mươi năm qua, không phải vì anh đã có thi phẩm lưu hành rộng rãi trong độc giả, đã có những sinh hoạt văn học nghệ thuật thật độc đáo, đầy sáng tạo mà ai cũng ngưỡng mộ. Quả thật không phải vì một quá trình sự nghiệp dấn thân cho văn hóa như vậy, mà chính là vì anh đã tạo nên được sự nghiệp ấy từ khởi đầu của một con người võ nghiệp xuất thân từ một khung trời Đà Lạt như tôi, xuất thân từ một ngôi trường nơi khung trời cao nguyên thơ mộng kia, mang tên là trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Với một tình cảm đặc biệt ấy dành cho nhau, khi nhận được thi tập “Người Tình Quê Hương” của Quốc Nam gửi tặng, tôi đọc tên thi phẩm mà không thể không có bao câu hỏi được đặt ra. Đây là tập thơ chỉ thuần túy về tình yêu? Tình yêu được nói đến chỉ là tình yêu dành cho một bóng dáng kiều diễm Việt Nam, ở đâu đó trên đất nước quê hương, chứ không là một hình ảnh của một giai nhân ngoại quốc nào? Hay Quốc Nam muốn giải bày những dị biệt, những khác nhau trong yêu thương, trong dâng hiến, trong phong cách tỏ bày giữa một người tình thuần túy Việt Nam, và một người tình của đất Mỹ, trời Âu? Tôi tự hỏi với bao nhiêu trăn trở về Đất Nước, về Tổ Quốc, Đồng Bào đang còn ngùn ngụt trong lòng, với bao nhiêu thao thức: Nước non sáu khắc đôi hàng lệ, Tâm sự năm canh một bóng đèn. Về non sông xứ sở chưa quang phục lại được, thì có lý nào Quốc Nam đã quên sứ mạng của mình, để giờ đây dùng ngòi bút vẫn từ lâu là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh chung, ngợi ca cuộc sống yêu đương thường tình? Liệu lý tưởng mà trường Võ Bị Quốc Gia truyền đạt, có còn là ngọn hải đăng soi sáng tháng ngày cho Quốc Nam? Liệụ lời thề nơi Vũ Đình Trường trên đồi núi Lâm Viên ngày nào đã vang vọng khắpp đất trời theo mũi tên vút đi bốn hướng chuyên chở ý chí tang bồng hồ thỉ của người sĩ quan ngày ra trường, để bắt đầu gắn chặt cuộc đời vào Tổ Quốc với Trách Nhiệm và Danh Dự, có còn là câu kinh nhật tụng nơi Quốc Nam? Nếu không thì đối với tôi, còn nỗi buồn nào sâu xa hơn, còn bẽ bàng nào đau đớn hơn! Tôi đem ưu tư đó mà phân giải với tác giả “Người Tình Quê Hương” để rồi nghe Quốc Nam rạng rỡ tiếng cười bên kia đường giây viễn liên từ Cao Nguyên Tình Xanh đáp lại không chút ngập ngừng. Quốc Nam đã sôi nổi hỏi lại tôi, hình ảnh nào đem lại cho mình tình cảm vừa thơ mộng vừa đậm đà, vừa nồng nàn vừa tha thiết hơn là hình ảnh của Người Tình? Hình ảnh nào được ghi khắc sâu đậm nét nhất trong tim mình, trong hồn mình nếu không phải là hình ảnh của Người Tình? Và hình ảnh nào giúp thăng hoa đời mình, nhất là đối với người nghệ sĩ là suối nguồn cảm hứng không vơi, trong hạnh phúc cũng như trong khổ đau, trong thủy chung cũng như trong ruồng rẫy, hơn là hình ảnh của Người Tình? Thì ra, với Quốc Nam, anh muốn đồng hóa Quê Hương thành Người Tình. Anh đăng quang Quê Hương như Người Tình của mình, để rồi từ đó, những tình cảm nào có mức độ cao nhất mà mọi người thường dành cho người tình, thì anh sẽ dành hết cho Quê Hương của mình, cho Việt Nam ngàn đời thân yêu của mình. Với tác phẩm văn chương xuất bản, với bao sáng tác đã góp phần vào sinh hoạt văn học nghệ thuật nơi hải ngoại, nhất là với thi tập “Người Tình Quê Hương”, những dòng thơ của Quốc Nam đều chứa đựng tấm lòng nhớ nước thương nhà thật chân chất và cũng thật nhiệt nồng. Với thời gian hơn một phần tư thế kỷ nơi xứ người, dẫu rằng đời sống vật chất có phong phú, phồn vinh, dẫu rằng đời sống có đầy bận bịu lo toan, tấm lòng nhớ nước, thương quê đó nơi Quốc Nam trong “Người Tình Quê Hương” quả thật đã không phai lạt đi, không giảm thiểu sự nhiệt nồng, mà tính chất nhiệt nồng ấy chỉ có cộng thêm vào, nhân thêm lên… Quả thật, tấm lòng thiết tha ấy đã ẩn hiện, dàn trải khắp 52 bài thơ trong thi tập “Người Tình Quê Hương” của anh. Với những tâm hồn khác, chiếc áo dài thướt tha nơi người tình có thể chỉ gợi lên những dịu dàng thơ mộng, những mảnh khảnh yêu kiều của giai nhân đang ngự trị trong trái tim mình, nhưng với Quốc Nam, chiếc áo dài tuy cũng mang mang hồn xao động: “Áo tím em mang, trời diễm ảo, Tôi còn ngây ngất. Máu xôn xao… (Áo Dài Quê Hương) Nhưng chỉ hồn mang mang xao động trong giây phút để rồi chỉ còn nhìn thấy qua chiếc áo dài ấy không gì hơn là hình ảnh của Quê Hương, và thương nhớ chiếc áo dài cũng đồng nghĩa với thương nhớ Quê Hương trong khi đang trên đường luân lạc: Em ạ, tôi yêu màu áo tím, Bóng hình mở sáng một Quê Hương. Mốt mai trên nẻo đường vô định, Tà áo em dài những nhớ thương. (Áo Dài Quê Hương) Với Quốc Nam, nghĩ tới Quê Hương, thương nhớ Quê Hương là để nung nấu thêm cho hoài bão từng ấp ủ qua tháng ngày nơi đất khách quê người: Tình quê một cõi bạt ngàn thông, Nắng ấm đâu đây dậy lửa hồng. Bằng hữu dăm người còn nghĩa lớn, Hẹn nhau xây dựng đẹp Quê Hương. Tôi gọi cao nguyên Tây Bắc ơi! Giữ niềm tin tưởng một ngày mai. Đoàn quân quyết bạt ngàn sông núi Em hãy cùng tôi cứu giống nòi. (Cao nguyên Tình Xanh) Cùng hẹn trở về một buổi mai, Quê nhà xa tít bóng hình ai? Có em trải lụa bên bờ giậu, Có nắng trên vai thả giấc dài. (Cuối Năm, Thung Lũng Hoa Vàng) Đêm bao la tâm sự Ta siết tay bạn hiền Hẹn nhau làm lịch sử Dựng đất nước ba miền Vang vang lời hịch cũ Quyết diệt bọn cuồng điên. (Tình Bạn Và Giông Bão) Và không chỉ với những tấm lòng cùng ấp ủ một hoài bão chung, Quốc Nam mới tỏ bày tâm sự ấy, mà cả với đứa con gái còn bé bỏng của mình, anh cũng cố gắng gợi lên nơi tâm hồn con huyền thoại Rồng Tiên của lịch sử , gởi gấm những ước vọng cho tương lai Quê Hương, truyền đạt những mong ước cao cả vào tâm hồn con: Bố thương yêu con gái Đặt tên một loài hoa Thủy Tiên bố gọi mãi Huyền sử Quê Hương ta. Nàng Tiên nhỏ của bố Chuyện xưa Lạc Long Quân Mẹ Âu Cơ đã mở Linh hồn bố cho con. Anh con là giống Rồng Vẫy vùng trời hải ngoại Hãy cùng trở về nguồn Quê hương ta dựng lại. Thủy Tiên, bố thương con Như tương lai Tiên Rồng Như nét son dân tộc Trên bầu trời Á Đông. Quốc Nam làm thơ, khắc họa hình ảnh người tình, tỏ bày lòng thủy chung, nhưng hình ảnh người tình chỉ là nét đẹp để nói đến đất nước non sông: Lòng em phương Đông rực rỡ, Thịt xương còn nặng thủy chung. Đất cũ ân tình lớn dậy, Cách ngăn rồi qua cơn mê. Yêu dấu một đời vẫn đợi, Tình ta đẹp giữa trời quê. (Tình Như Ca Dao) Tôi ước mơ đưa em về lối nhỏ, Chiều Việt Nam ngập bóng nắng hanh vàng. (Em Tháng Chạp) Bỗng gặp em hình ảnh một Việt Nam, Trong ánh mắt là tình quê vĩnh cửu. Hẹn nhau nhé ngày nao về cố xứ, Nối vòng tay xây dựng lại cơ đồ. (Quê Hương Người Tình) Như vậy đó, đọc ở đâu trong suốt tập thơ, cũng thấy một tâm tình nhất quán của Quốc Nam. Người tình chỉ là một điển hình, một ẩn dụ về Quê Hương. Không gì đẹp bằng Người Tình, không gì tha thiết hơn với Người Tình, và đó là điều Quốc Nam muốn khẳng định: Quê Hương trong tâm hồn tác giả đem theo trên bước đường luân lạc tha phương từ cuộc biển dâu tháng tư 1975 luôn luôn là hình ảnh đẹp nhất, thiết tha nhất, luôn luôn là hình ảnh cao cả thiêng liêng nhất để nhớ đến, để nghĩ về… Và với tất cả tấm lòng đó, hai mươi sáu năm tính cho đến nay, thăng trầm nơi đất khách quê người, người SVSQ xuất thân từ khóa 22 trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với một đam mê thơ văn, một bầu nhiệt huyết dùng văn hóa như một lợi khí đấu tranh cho tự do dân chủ, cho nhân quyền nơi quê nhà, đã không ngừng nghỉ với bao nhiêu hoạt động nghệ thuật, cùng với những tấm lòng đầy nhiệt huyết có chung hoài bão, chung chí hướng, nhằm hoàn thành mục đích, sứ mạng nói trên… Nhận ra được điều ấy, và nếu cũng như tôi, người đọc nhận ra được điều ấy, khi đọc thi tập “Người Tình Quê Hương” cùa thi sĩ Quốc Nam, tôi nghĩ mỗi tấm lòng xa xứ còn băn khoăn ray rứt đến quê hương không ai là không trân trọng tác phẩm của anh. Thi tập “Người Tình Quê Hương” thực sự là tiếng nói chân tình nhất về Non Sông Đất Nước của một nhà thơ có tâm hồn và trách nhiệm với thế hệ đương thời, và cả cho những thế hệ mai sau. Vùng Vịnh Bắc Cali, tháng 7 năm 2001 DUY NĂNG
– Tác Giả hàng chục tác phẩm văn thơ đã xuất bản trước & sau năm 1975.
– Cựu SVSQ Khóa 14 Trường Võ Bị Quốc Gia VN (Dalat)..
|