Nhà thơ Lưu Bá Bắc: Quốc Nam với ‘Người Tình Quê Hương’ và ‘Nỗi Nàng Canh Cánh Bên Lòng Biếng Khuây’.
Nỗi nhớ ‘Canh cánh bên lòng biếng khuây’ chính là một lực thúc đẩy tiến trình biện chứng: ‘Quốc Nam sống trong thơ và thơ sống trong Quốc Nam’. Tiến trình biện chứng ấy làm loé mở trong tâm hồn nhà thơ những bông hoa rực rỡ sắc màu, ngào ngạt hương thơm, và kết tinh trong những giòng thơ chất ngất nỗi nhớ người tình và quê hương.
Nhà thơ Lưu Bá Bắc: Quốc Nam với ‘Người Tình Quê Hương’ và ‘Nỗi Nàng Canh Cánh Bên Lòng Biếng Khuây’.
‘Nỗi Nàng Canh Cánh Bên Lòng Biết Khuây’. Câu thơ của Nguyễn Du hiện ra trong tâm trí, khi tôi đọc hết 52 bài thơ với đủ mọi thể loại: 5 chữ, 6 chữ, lục bát, thất ngôn tứ tuyệt và 8 chữ, trong tập thơ’Người Tình Quê Hương’ của Quốc Nam.
Vâng, theo tôi, ‘Người Tình Quê Hương’ là nỗi nhớ trải dài – lan rộng – chất ngất. Nhưng nếu nỗi nhớ của chàng Kim là nỗi nhớ của người tình si trước vẻ đẹp sắc sảo mặn mà đến độ hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh của nàng Kiều, và chỉ đơn thuần là nỗi nhớ vì chưa chinh phục, chưa chiếm hữu được nàng Kiều; thì nỗi nhớ của Quốc Nam đối với người tình là nỗi nhớ gắn liền với nỗi nhớ quê hương. Quốc Nam yêu người tình quê hương qua chiếc áo dài mầu tím. Áo dài như một biểu tượng đẹp nhất của người phụ nữ Việt Nam. Trong chiếc áo dài, người phụ nữ Việt Nam có vẻ đẹp dịu dàng mà tha thướt, e ấp mà gợi tình, nhất là chiếc áo dài màu tím. Màu tím là màu của hoài vọng về một quê hương ly cách. Người tình trong chiếc áo dài màu tím mở ra một cõi sáng ngời rực rỡ về một quê hương yêu dấu. Ta hãy nghe nhà thơ bầy tỏ với người tình:
‘Em ạ! Tôi yêu màu áo tím,
Bóng hình mở sáng một quê hương.
Mốt mai trên nẻo đường vô định,
Tà áo em dài những nhớ thương’.
(Áo Dài Quê Hương)
Trong nỗi nhớ người tình, nhà thơ hy vọng một ngày nào đó được cùng nàng trở về khi quê hương thanh bình, tự do – Ôi người tình! Ôi quê hương! Nhà thơ đã gợi ra trong tâm hồn chúng ta những hình ảnh đẹp vô cùng, gần gũi và thân thương biết mấy!
‘Cùng hẹn trở về một buổi mai,
Quê nhà xa tít bóng hình ai.
Có em trải lụa trên bờ dậu
Có nắng trên vai thả giấc dài.
(Cuối Năm Thung Lũng Hoa Vàng)
Nỗi nhớ người tình, nỗi nhớ quê hương ‘canh cánh bên lòng nhà thơ’ – Một cách liên tục – Sáng, trưa, chiều, tối, đêm, quanh năm bốn mùa:
‘Đầu năm nhung nhớ, một vầng trăng khuya’
Đó là nỗi nhớ khi mùa xuân đến. Về mùa hè, nỗi nhớ của nhà thơ đượm một mầu ước mơ, hy vọng:
‘Yêu em cách vạn núi sông,
Vẫn ôm ấp mộng, tâm hồn giao nhau’.
Hình như sắc thái ảm đạm u buồn của mùa thu, làm nỗi nhớ của nhà thơ có một cường độ mãnh liệt tha thiết hơn:
‘Yêu em, ly cách ngậm ngùi,
Nghe như biển động, cho dài nỗi đêm’.
Và cái lạnh của mùa đông làm nỗi nhớ của nhà thơ trở thành niềm khát vọng khôn nguôi:
‘Tháng đông nhớ nụ hôn mềm,
Anh tìm hơi thở, gọi em ngàn đời’.
(Gọi Nhau Bốn Mùa)
Khi nỗi nhớ tràn ngập tâm hồn, cái tâm lý tự nhiên khiến người ta gọi đối tượng nhớ nhung. Ở đây cũng vậy, nhà thơ gọi người tình trong nỗi nhớ, trong cả cơn mơ:
‘Ta gọi em trong mơ,
Dòng lệ mình chưa khô’.
(Cuộc Tình Mơ Tan)
Có lẽ vì nỗi nhớ nhung chất ngất, khiến nhà thơ phải khóc khi gọi người tình:
‘Sao nỗi buồn, anh nghe giọt long lanh’
Và:
‘Em yêu dấu, anh gọi em, mắt đỏ’
(Bài Hờn Ghen Cỏ Hồng)
Nhà thơ gọi người tình trong nỗi nhớ, nhớ người tình trong nỗi cô đơn:
‘Anh một mình, một bóng, một hình em’
(Bài Hờn Ghen Cỏ Hồng)
Dù người tình xa cách vạn dặm, anh vẫn cứ gọi:
‘Yêu dấu hỡi, anh gọi em vạn dặm’
(Bài Hờn Ghen Cỏ Hồng)
Và âm thanh của tiếng gọi vang vọng cả một vùng nhung nhớ:
‘Âm thanh em vang vọng suốt địa đàng’
(Ngây Ngất)
Sự chia lìa, phân ly, ngăn cách là nguyên nhân của nỗi nhớ. Nhưng như tôi đã nói – tính chất đặc thù – trong thơ Quốc Nam, là nỗi nhớ người tình gắn liền với nỗi nhớ quê hương:
‘Đã quê người còn bóng dáng quê hương’
……………………………………………..
‘Tạ ơn em, tình nhân nơi viễn xứ,
Hình bóng em là cả một trời quê.
Hãy yêu nhau và giữ mãi lời thề,
Non nước đó, máu xương là nhân chứng’.
(Tạ Ơn Yêu Dấu)
Tôi yêu vô cùng những câu thơ thắm đượm tình người, chan chứa tình quê hương của Tác Giả:
‘Nhìn đâu cũng bóng quê hương,
Mắt em, trăng dõi cuối đường quạnh hiu’.
(Gọi Em Lâm Viên)
Đối với Quốc Nam, hình như nét đẹp của người tình là nét đẹp của quê hương: bờ dậu, luống rau, rặng tre, con đê, giòng sông… Ngay cả ánh nắng cũng là một hình ảnh vô cùng ấm áp ngọt ngào:
‘Áo tím, tôi mơ trời phố cũ,’
…………………………………….
Con đê, làng xóm, chìm dâu bể
Tà áo em màu hoa tím sim’.
(Dư Ảnh)
Và những hình ảnh ấm áp ngọt ngào ấy là ước mơ khôn cùng của nhà thơ:
‘Tôi ước mơ đưa em về lối nhỏ,
Chiều Việt Nam ngập ánh nắng hanh vàng.
Vị cà phê ngọt lịm má môi hồng,
Tình lớn mãi trên thanh bình quê cũ’.
(Em Tháng Chạp)
Nỗi nhớ, người tình gắn liền với nỗi nhớ quê hương – theo tôi – chính là chủ đề lớn, gần như một thông điệp mà Quốc Nam muốn chuyên chở vào thơ anh, để gửi đến cho chúng ta, những thân phận lưu vong, thân phận của những người mất quê hương bởi tháng tư hoen màu cờ đỏ, và nhà thơ đã khẳng định khi nói với người tình:
‘Em, tình yêu nào lớn,
Bằng quê hương tự dân.
Tôi hy sinh mạng sống,
Cho giấc mộng Việt Nam:
Lịch sử bừng chuyển động.
Đất nước đẹp thiên thần’
(Quê Hương Tự Dân)
Quốc Nam muốn chuyên chở vào thơ anh ‘Dăm điều có thực’ để gửi đến tuổi trẻ Việt Nam. Bài thơ cuối cùng của anh trong tập ‘Người Tình Quê Hương’ như phần kết luận của thông điệp ‘Người Tình Quê Hương’. Thú thật, khi đọc ‘Người Tình Quê Hương’, nhiều khía cạnh mà tôi muốn đề cập tới như hồn thơ, chất thơ và ngôn ngữ thơ trong ‘Người Tình Quê Hương’:
“Anh yêu nét đẹp hương hoa.
Em là thi tứ ngọc ngà. Trao tay.
Quê hương vạn dặm biển dài,
Và anh hạnh phúc, tìm hoài. Có em”.
(Thi Tứ Em)
Ở đây, trong đoạn thơ trên, ngoài hồn thơ, chất thơ và ngôn ngữ thơ, Quốc Nam còn xử dụng nghệ thuật thi ca rất tài tình trong sự ngắt đoạn, ngắt ý, ngắt nhịp. Chỉ trong một câu thơ: ‘Em là thi tứ ngọc ngà. Trao tay’
… ‘Và anh hạnh phúc, tìm hoài. Có em’.
Tôi xin đơn cử một câu thơ khác:
‘Tôi trên đỉnh gió, dạt dào.
Rừng thông khuất bóng, xôn xào tình nồng’.
(Bài Cao Nguyên Tình Xanh Số 2)
Trong câu thơ trên, dấu phẩy sau chữ ‘gió’ và trước chữ dạt dào, ta thấy ngay tĩnh từ kép ‘dạt-dào’ không phải là thuộc từ của ‘đỉnh gió’, và ta có thể hiểu là tình cảm của nhà thơ ‘dạt dào’ dẫn đến trạng huống ‘Xôn xao tình nồng’. Sự ngắt đoạn, ngắt ý, ngắt nhịp này, còn tạo một âm sắc, một cường độ mạnh của nhịp điệu, của âm thanh.
‘Tôi trên đỉnh gió, dạt dào’
Quốc Nam đã xử dụng nghệ thuật ngắt đoạn, ngắt nhịp này rải rác trong rất nhiều bài thơ của anh; nhưng không cần cầu kỳ, làm dáng như Du Tử Lê khi xử dụng dấu ngắt chéo. Quốc Nam chỉ xử dụng những ký hiệu đã có sẵn của ngôn ngữ. Tôi muốn đào sâu nghệ thuật xử dụng ngôn ngữ thơ của Quốc Nam nhiều nữa, tuy nhiên trong phạm vi bài viết ngắn này, không cho phép tôi đi sâu vào vấn đề đó. Ở đây tôi chỉ muốn nhấn mạnh những điều ‘gần như là thông điệp’ mà Quốc Nam đã chuyên chở vào thơ anh, như tôi vừa trình bày.
‘Gần như một thông điệp’ vì ‘Quốc Nam sống trong thơ’ và ‘thơ sống trong Quốc Nam’. Tiến trình biện chứng này kể cả những sinh hoạt có tính cách kinh tế của anh – cũng gần gũi gắn bó với sinh hoạt nghệ thuật. Và thơ chính là nguồn cảm hứng, là nơi nương tựa của tâm hồn Quốc Nam, để anh dấn thân – một cách nhiệt thành hăng say – vào những sinh hoạt khác, như ta đã thấy trong cuộc sống của anh lâu nay. Từ những sinh hoạt ấy, thơ bừng sống trong tâm hồn Quốc Nam. Thơ vút cánh bay cao thành nỗi nhớ ngút ngàn – chất ngất – trải dài – lan rộng trong thi tập ‘Người Tình Quê Hương’. Tôi nghĩ Quốc Nam đã lầm khi anh bày tỏ trong lời mở đầu tập thơ – rằng anh lao vào những sinh hoạt văn hóa và cộng đồng để tìm quên. Thực ra Quốc Nam có bao giờ quên đâu, trái lại chính nỗi nhớ người tình, nỗi nhớ rực rỡ tinh cầu đủ mọc rễ in sâu vào tim óc anh, vần vũ trong tâm hồn anh từng giờ, từng ngày:
‘Gọi tên em yêu dấu,
Một ngày trong mọi ngày’
(Trái Long Lanh)
Khi ngủ vùi, khi thức giấc nửa đêm về sáng, nhà thơ cũng vẫn nhớ người tình:
‘Vào đêm, ngủ vùi nhung nhớ’
(Trăng Tháng Tám)
Và:
‘Thức giấc nửa đêm về sáng,
Gót son đã nhẹ vào hồn’
(Cho Người Tình Mắt Biếc)
Tóm lại, nỗi nhớ ‘Canh cánh bên lòng biếng khuây’ chính là một lực thúc đẩy tiến trình biện chứng: ‘Quốc Nam sống trong thơ và thơ sống trong Quốc Nam’. Tiến trình biện chứng ấy làm loé mở trong tâm hồn nhà thơ những bông hoa rực rỡ sắc màu, ngào ngạt hương thơm, và kết tinh trong những giòng thơ chất ngất nỗi nhớ người tình và quê hương.
Để kết thúc bài viết này, tôi thân ái gửi đến Quốc Nam bài thất ngôn bát cú như một cảm đề ‘Người Tình Quê Hương’. Và từ một cảm đề – như một lời cám ơn chân thành đến nhà thơ đã cho tôi những giây phút trầm mình – lịm hồn vào nỗi nhớ quê hương:
‘Làm thơ ròng rã bốn ba (43) năm,
Thác vẫn vương tơ, cái kiếp tằm.
Nước mắt quê hương tuôn chảy mãi,
‘Người tình đất Mẹ’ xót xa thầm.
Nhớ nhung chất ngất niềm tâm sự,
Đau khổ vơi đầy nỗi hận căm.
Hải ngoại một phần tư thế kỷ,
Xót thương quê Mẹ buổi thăng trầm.
Lưu Bá Bắc
(Tháng Giêng Năm 2000)