LTS.- Thi tập ‘Người Tình Quê Hương’ của thi sĩ Quốc Nam ấn hành từ tháng cuối cùng của thế kỷ 20, đã gây khá nhiều tiếng vang thuận lợi cho sự nghiệp thi ca của ông, trong dư luận báo chí và giới sinh hoạt văn học nghệ thuật khắp thế giới tự do. Ngay tại Miền Tây Bắc Hoa Kỳ, thi sĩ Phan Lạc Giang Đông cũng đã nhận xét về thơ Quốc Nam được coi là chính xác. Ông Phan Lạc Giang Đông là một nhà thơ nổi tiếng trước năm 1975, với các thi tập đã xuất bản gồm: Đắc Khanh và màu sắc quê hương, Trở mình, Thông điệp, Tiếng hát trên đồi cao. Ông sang Mỹ qua diện HO từ năm 1994, và đã viết cho nhiều tờ báo tại Hoa Kỳ.
Đặc biệt một số bài thơ của Phan Lạc Giang Đông đã chuyển sang Anh Ngữ và được đăng trong các tuyển tập thi ca Hoa Kỳ, như: Thi tuyển ‘A blossom of Dreams’, Reaching Other Worlds. Riêng bài ‘Holly Park and the colors of my homeland’ của ông đã là bài thơ được đặt lên hàng đầu của thi tuyển quan trọng ‘A Celebration of poets’. Trưóc khi qua đời vào cuối năm 2001, thi sĩ Phan Lạc Giang Đông đã là Hội Viên Ưu Tú của Hiệp Hội Thi Ca International Society of Poets. Ông sinh ngày 1 tháng 12 nă 1940 tạ Hải Dương, và tạ thế tại Seattle (USA) ngày 8 thág 11 năm 2001.
Đọc xong thơ tập bốn ‘Người Tình Quê Hương’ của Quốc Nam, thi sĩ họ Phan đã viết bài tạp ghi văn nghệ mang tựa đề ‘Bài Viết Đầu Cho Kỷ Nguyên Mới: Thơ và Cuộc Đời, Quốc Nam’, mà chúng tôi xin đăng nguyên văn sau đây:
Cho đến tận chiều nay tôi mới có nguyên một buổi và một tối thật yên tĩnh để đọc thơ của Quốc Nam. Quả thực, tôi có lỗi với anh, khi chậm trễ. Thôi, chung quy chỉ vì bận bịu với mưu sinh, với cái thực tại. Tuy nhiên, cái Nghiệp về Thi Ca thì cho đến chết cũng chẳng bỏ được.
Tôi không muốn viết khen Quốc Nam. Chê thì dĩ nhiên không, vì, bất cứ ai, khi làm thơ là họ đã có tấm lòng, tấm lòng với Đời, với Người. Tôi dành cho Quốc Nam một trân quý trong tôi. Đó là tập thơ của anh là cuốn sách đầu tiên tôi đọc trong thời gian khởi đầu cho Kỷ Nguyên Mới, thi tập ‘Người Tình Quê Hương’ của thi sĩ Quốc Nam.
Đọc tập thơ của Quốc Nam xong, tôi như sống lại với thuở say mê thơ của thời mê thơ – mê đời và tin người. Đã qua đi bao năm tháng đớn đau, đã qua đi bao bão tố ở thuở còn tin vào mộng đẹp, cho đến tối nay, khi bên ánh đèn, một mình trong yên tĩnh, trong lắng đọng của mọi nỗi đau buồn, oan nghiệt và mộng dữ, để trở lại với thi ca. Vâng, thi ca của đời.
Thơ, theo tôi, thơ có sức mạnh vô cùng lớn lao. Thơ có thể làm thay đổi người. Những vần thơ từ tấm bé, thuở ấu thơ đã nung đúc được bao tâm hồn lớn lao, đã tạo nên Con Người Biết Hy Sinh Vì Đời, Vì Người. Dĩ nhiên, tôi chẳng bao giờ quên được bài Cháy Quê Hương (không rõ tên tác giả) của thuở còn học lớp ba, lớp nhì, bài Trần Bình Trọng, bài Hận Sông Gianh của thi sĩ Đằng Phương. Làm sao quên những vần thơ của Lưu Trọng Lư, của Hồ Dzếnh, của Đoàn Văn Cừ, của Quang Dũng, của Quách Thoại, của Tế Hanh…
* Vâng, tiếng thơ của dân tộc đã đi vào tâm hồn tôi ở lời ru của Mẹ, những áng ca dao giản dị, bay bổng, trữ tình. Tất cả đã cho tôi -như sữa Mẹ- lớn lên và yêu Tổ Quốc, yêu Dân Tộc. Những vần Đường Thi khi cha tôi ngâm vào những buổi sáng mờ sương, những tiết điệu và hình ảnh trong thơ Đường đẹp, nhưng vẫn đến sau – trong tâm hồn tôi – những nhịp nhàng của ca dao đơn sơ và giản dị, sâu lắng và mênh mông.
* Vâng, tôi đã làm thơ, thuở biết vẻ đẹp của mái trường, biết cảm được ngọn gió đông ở tỉnh lỵ Hải Dương, biết thấy hiu hắt lá bàng rơi khi thu về, và biết yêu mái tóc, ánh mắt và bâng khuâng ở một nụ ai cười.
Song, gói ghém vài câu thơ để tặng, rồi lại e dè, ép trong cuốn vở, ghi vào lưu bút, và bỏ cả học để cùng dăm ba người bạn ra bên sông Hàn, nhìn dòng sông, làm thơ, một thuở nào xa lắc ở ngôi trường tiểu học Hải Dương.
* Tôi vào đời, sống và làm thơ. Thơ cũng như đời sống, nhiều kỷ niệm và đẹp vô vàn. Song, cũng nhiều phiền lụy. Dù thế nào, thơ đã là cái Nghiệp phải đa mang. Tôi còn nhớ lắm, buổi nào rủ Phạm Thiên Thư lập thi văn đoàn Phục Hưng với Đặng Chí Côn, những sáng đọc thơ cho nhau nghe và nuôi mộng lấp biển vá trời ở văn học. Thuở nào cùng Triều Linh rủ nhau in ronéo và cùng Thế Nguyên ra Măng Non ở Trường Trần Lục.
Cho đến khi ra vào với thực tế, những bài thơ gửi báo bị bỏ vào thùng rác của tòa soạn, cùng lắm là được in tên ở mục Tin Văn, được nhắn tin cũng là một niềm vui không nhỏ ở thuở đầu đời văn thơ rồi.
Chính vì bao ‘khó khăn’ như thế, cho đến khi tôi phụ trách mục thơ văn hay trông coi tờ báo, tôi mới thấm được nỗi lòng của bao người mê và làm thơ. Tôi đã từng nghe có vài bạn văn thơ nói: ‘Tại sao ông lại dễ dãi với X đó, không thể cho vào giới văn nghệ được’, hay ‘văn thơ của hắn chẳng ra gì’, vân vân và vân vân.
Cũng do những ‘khó khăn’ của giới viết văn làm thơ, cho nên trước 1975, ở ngay Sài-gòn đã có bao phe nhóm văn, thơ. Mỗi tờ báo là một ‘Quốc Gia’, một ‘phe’, một ‘nhóm’. Thậm chí có những ‘thi sĩ’ phải ‘tuân phục’, ‘điếu đóm’, ‘bợ đỡ’ đàn anh, nay biếu chai rượu, mai mời cà phê La Pagode để… được đăng một truyện ngắn hay một bài thơ tình. Tất cả đáng thương biết bao!
Cho đến khi Miền Nam VN mất, tôi có dịp tiếp xúc với một số văn nghệ sĩ đó. Cũng thế, B.C.V. phải bợ Chế Lan Viên hết mình để được ‘đi’ vào giới thơ, và còn nhiều nữa. Tôi vẫn nghĩ, chẳng qua đó là ở xứ chậm tiến mới có cảnh đó.
Ấy thế, khi ra hải ngoại, sống ở nước văn minh nhất thế giới, tự do nhất, và tài năng của mỗi cá nhân được phát huy, không có gì cản trở được, thì những điều buồn phiền ở giới thơ văn vẫn còn. Cũng không đáng trách những người say nghiệp thơ văn, họ có thể hy sinh, hy sinh cả đời họ, dĩ nhiên. Có người hiến thân cho đàn anh mình, đàn anh là trên hết, có đàn anh thì có thơ, văn được đăng. Đàn anh cần tình thì dâng tình, nghĩa là đàn anh cần rượu thì dâng rượu, dâng tiền, nghĩa là đàn anh tạo cho mình thành ‘giới thi văn sĩ’, thành nổi tiếng, dù là tiếng giả, thơ giả, văn giả, hoa hoè hoa sói, lẩm cẩm, tâng bốc nhau đến chín tầng mây, là sao bắc đẩu, là thiên tài thơ văn. Nhưng, đau đớn sao! Đàn anh có ra gì đâu, cho nên, nghiệp thơ văn như thủy triều, lên rồi xuống, chẳng lưu lại hậu thế cái gì!!!
* Vâng, người văn nghệ, nhất là thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ phải có cá tính, phải sống thật, phải có tài năng. Đam mê thật, thơ thật, đau đớn thật, sung sướng thật, yêu quê thật, ‘tạm dung’ thật, nghĩa là phải thật. Tôi không nói văn nghệ vì ‘cái gì’. Những cái ‘vì’ đó cũ quá rồi, tranh luận mãi rồi. Song, cái ‘tính bẩn’ trong sinh hoạt phải bỏ đi. Văn thơ thời dự Giải Văn Học Nghệ Thuật Tổng Thống, N.V.Th. cũng phe nhóm. Nghĩ mà buồn, chỗ nào cũng vận động, cũng phe anh, phe tôi và phe chúng ta.
***
Tôi vẫn nhớ một câu nói của một nhân vật Hoa Kỳ (tôi quên tên) rất đúng:
‘You can put wings on a pig, but you don’t make it an eagle’.
Vâng, đàn anh có nâng đàn em thế mấy, đàn em có dâng đĩa vàng đĩa bạc, dâng rượu anh đào thượng hảo hạng, mà nếu không có tài năng thì vẫn chẳng ra gì.
Đó là chưa kể, chính đàn anh cũng không thể là con ‘EAGLE’ được, dù cho đến chết trong hoang tưởng.
***
Tôi lan man quá, nhưng phải có suy nghĩ tản mạn như thế, để nói thẳng về thơ Quốc Nam.
Tôi đã đọc một số thơ Quốc Nam ngay từ khi ở quê nhà trước 1975.
Khi ra hải ngoại, tôi đọc được vài bài của anh. Và tối nay, viết, sau khi cả buổi chiều đọc đi đọc lại ‘Người Tình Quê Hương’.
Theo tôi, thi sĩ phải sống thật, biết phẫn nộ, biết yêu thật, ghét thật. Thi sĩ khác các chính trị gia là không có ‘kế hoạch’, không ‘chiến thuật’, không biết ‘liên minh’, không giả tạo. Thi sĩ, theo tôi, gần với những chiến sĩ cách mạng quốc gia hơn. Thi sĩ là sáng tạo, là lập ra ngôn ngữ, tư tưởng mới, hướng dẫn, và làm thay đổi đời người.
Chính vì thế, tôi thích và viết về thi sĩ Quốc Nam. Những vần của Quốc Nam, đẹp và thật, và giản dị, và thi sĩ:
‘Em mang dáng dấp xưa thần thoại,
Chìm đắm trong hương sắc tuyệt vời.
Sóng tóc tôi mơ niềm luyến ái,
Xuân sang len lén giấc yêu người.
… Xin tạ ơn em, xõa tóc huyền
Cho tôi sống lại tuổi xuân êm
Chợt lòng hoa nở vàng như nắng
Thung lũng cũng hồng nhân dáng em’.
Hay một Quốc Nam đôi khi bay bổng hơn Quang Dũng:
‘Chén rượu từ lâu ta đắng cay,
Tình thân, hơi ấm, siết bàn tay.
Uống đi, ta uống vơi sầu tận,
Và nở hoa đời xanh biếc mây.
… Ly này ta tặng bạn hiền đây,
Xuân đã chừng như thấp thoáng đầy.
Sóng mắt giai nhân mờ ảo giác,
Đường về cố xứ, nối vòng tay’.
Nếu để ý về thể lục bát, tôi nghĩ Quốc Nam đã đạt được ở nghệ thuật rất cao:
‘Gọi em cuối giấc chiêm bao
Trái tim nhịp khuất. Hương ngào ngạt bay.
Hôn em giữa gối chăn đầy
Giữa đêm ảo giác. Anh say tình nồng’…
Hay vô cùng trữ tình:
‘Sáng nay trời chớm sang đông,
Mù sương con gái, rực hồng cao nguyên’.
Và:
‘Cám ơn em, nụ hôn mềm,
Trái tim mùa hạ. Nỗi niềm xuân xanh’.
Thơ Quốc Nam đầy ắp tình quê hương. Thi sĩ yêu quê hương thật sự, tình yêu của thi nhân, của thi ca trong tâm hồn Quốc Nam:
‘Và đó tình ta thành biển lớn,
Em là bóng dáng một quê hương.
Anh yêu Sông Hậu vang trùng sóng,
Vút giải ngân hà phủ xóm thôn’.
Và suốt tập thơ, Quốc Nam đã cho tôi thấy rằng Thi Sĩ – Cuộc Đời là một. Vâng, Quốc Nam – Thơ, cuộc đời, là một.
***
Năm 1994, tháng 7, tôi gặp họa sĩ Nguyễn Đại Giang ở tòa báo Người Việt Tây Bắc. Lần đầu. Tôi thấy anh đang lay-out báo. Sau chào hỏi, Nguyễn Đại Giang và tôi đều trở nên hợp, và Giang dẫn tôi về nhà, nơi ‘housing’ anh ở. Tôi được xem những tấm tranh đã hoàn chỉnh của anh. Tôi có nói: ‘Anh sẽ thành công lớn ở Mỹ. Vì anh có tài năng lớn, và anh xử dụng màu sắc Mỹ tuyệt vời’.
Bây giờ, vào thiên niên kỷ mới, tôi đọc tập ‘Người Tình Quê Hương’ của Quốc Nam. Đây là cuốn sách đầu tiên tôi đọc ở hải ngoại một cách trọn vẹn, nghĩa là đọc hết. Vì đó là tập thơ mới và nhất là thơ hay, thơ thật và thơ đẹp tình yêu đời, yêu người. Tôi muốn nói với Quốc Nam rằng: Anh là Thi Sĩ Chân Chính của Nghệ Thuật Thi Ca. Tài năng và tâm hồn của chính anh đã cho tôi khẳng định như thế.
Vâng, hạnh phúc cho tôi vào dịp đầu năm dương lịch ở quê hương mới này, trong lĩnh vực văn học nghệ thuật Việt Nam hải ngoại, tôi đã đọc thơ của thi sĩ chân chính Quốc Nam.
Cuối cùng, tôi phải cám ơn anh đã cho tôi hạnh phúc thi ca đó.
PHAN LẠC GIANG ĐÔNG
(Tây Bắc Hoa Kỳ, đầu năm 2000)
Tạp ghi Phan Lạc Giang Đông: Một phần tư thế kỷ, người Việt hải ngoại và thi sĩ Quốc Nam, với Sự Kiện Văn Hóa Tacoma Dome.
* Khi nhìn lại một phần tư thế kỷ, vâng, hai mươi lăm năm, những điều gì cho tôi suy nghĩ về cộng đồng người Việt ở hải ngoại.
Với hơn hai triệu người, từ Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Úc. Với hơn hai triệu người, đa phần là những thành phần tinh hoa của miền Nam Việt Nam trước 1975 lưu vong. Tôi nghĩ lại, những chính trị gia, những tướng lãnh, những bộ trưởng, những văn nghệ sĩ sáng giá, những nhà lập thuyết, với những pho sách dầy cộm. Họ là những tiến sĩ được sự chứng nhận bởi các đại học, ở cuộc vật lộn, đấu tranh cho sự tồn vong của dân tộc. Và , hai mươi lăm năm trôi qua, thế hệ sau, con cháu, nay đã trưởng thành. Thế hệ này đã tiếp thu rất nhiều nền giáo dục, văn hóa tiến bộ nhất thế giới. Tất cả, từ thế hệ cha anh, đến lớp cháu con, hơn hai triệu người Việt Nam đang lớn lên dũng mãnh trong cộng đồng nhân loại khắp thế giới. Vâng, nhìn về tương lai, tôi rất tin tưởng ở Ngày Mai Của Tổ Quốc.
* Trước ánh đèn, bên ngoài cửa sổ là khung trời tảng sáng của miền Bắc Seattle. Phía xa, cầu Aurora mờ trong sương Tây Bắc Hoa Kỳ. Ngọn đồi bên kia thấp thoáng, tất cả như tấm tranh thủy mạc. Ly cà phê đã nguội từ lúc nào, khi tôi mãi miên man nghĩ về những người bạn cũ, bạn mới, kẻ bên kia Thái Bình Dương êm sóng, người bên này đang mãi miết với trăm ngàn việc.
Vâng, những chồng báo, tạp chí và sách vở trong căn phòng nhỏ bé của tôi đã chiếm ba phần tư diện tích. Chỉ trừ cho chiếc giường và bàn viết, không lối đi, không sa-lông và máy hát. Chồng sách báo Việt ngữ ngút ngàn, tôi đã đọc. Ở đó, những bài viết tham luận về đủ mọi vấn đề, tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn hóa, và những bài chống đối nhau kịch liệt. Những bài viết qua báo chí, khi đọc khiến tôi tưởng như hàng mấy chục sư đoàn đang ra trận, những bài luận thuyết làm tưởng như ngày mai ta trở lại quê hương.
Khi nhìn lại thực tế, ngay thành phố thơ mộng này, vâng, sinh hoạt của người Việt cũng ồn ào lễ lạp, cũng như cơn bão táp qua đi, như thủy triều lên xuống. Những buổi dạ vũ, đãi đằng, những ốc đảo sinh hoạt và phe nhóm, những cái nhìn nghi kỵ và chia xa, những thành kiến và khẳng định, những phe anh, phe tôi và phe chúng ta. Nguy hiểm hơn là những dự bị, những âm mưu chiến thuật, những cuộc sống hai mặt – cực hữu và cực tả tiến hành cùng một lúc – những toan tính, những kế hoạch chỉ xuất hiện ở đám mờ ảo và đêm đen, những nụ cười ngao ngán, những việc ‘Nhanh Chân Đi Trước Về Trước’ thức thời giả dối và bản tính lợi nhuận…
Vâng, đó, những mệt mỏi trước tôi, những tưởng chừng buông xuôi và khép kín, đã có lúc thì đành ‘Hãy Để Thềm Ta Xanh Bóng Rêu’.
* Tôi đã gặp những đàn anh, những bậc trưởng thượng, tôi đã xin ý kiến. Tôi đã gặp những bạn hữu, qua điện thoại hay trong buổi cà phê khuya khoắt, tôi đã gặp những tri âm trong cơn say bốc lửa. Song, sau bao lần hạnh phúc của ngôn từ, của chữ nghĩa bốc lên cao, thì rồi cũng êm ả như dòng sông trôi xuôi về biển.
Đôi khi, cũng muốn như một nhân vật hàn sĩ trong Thần Tháp Rùa của nhà văn, giáo sư Vũ Khắc Khoan, là đốt sách, quên chữ nghĩa để đi vào thực tế. Thế nhưng, biết thì dễ, làm mới khó triệu lần.
* Một trong những điều làm tôi hạnh phúc giữa phong ba của phiền muộn, khi gặp nhà văn Thanh Quang và nhạc sĩ lão thành Anh Việt, cùng anh bạn thân thiết L.T.B. Bốn người trong buổi gặp đầy ắp tình quê hương. Tôi nhớ, giữa trưa Seattle nắng lửa, tôi đã đọc những vần thơ Quang Dũng cho các anh bạn nghe. Thơ Quang Dũng vẫn hay, song đó là ước mơ, là mô tả, là dĩ vãng.
Vâng, nhạc sĩ lão thành Anh Việt tác giả của Bến Cũ đã làm tôi say mê một thời, ‘Anh đi… thế thôi… rồi em như bóng…, nhớ nhau…’ và: ‘Nhưng, Toàn Dân Đang Ngóng’. Vâng, Bến Cũ, thế còn chúng ta có trở lại bến cũ…? Tất cả đều là hình ảnh tuỳ thuộc ở không gian và thời gian. Tuy thế, Bến Cũ của nhạc sĩ lão thành Anh Việt đã sống mãi trong lòng, trong tâm hồn của hàng hàng lớp lớp những người yêu núi sông.
Tôi không ngờ được, mỗi lần nghe điện thoại từ Washington D.C., tôi ngỡ Thanh Quang già lắm, lão lắm rồi, giọng Nam Bộ ấm và những bài thơ văn truyền cảm, sâu lắng của anh, làm tôi lại càng khẳng định hơn.
Thì hôm gặp Thanh Quang trẻ, đẹp trai (có lẽ hơn ông Quốc Nam), say men và hào sảng, năng động. Tôi như thể giòng An Giang, Đồng Nai, sóng Cửu Long dồn dập… Và tôi như cảm nhận gió của sông Tiền, sông Hậu vỗ về.
Tôi được biết các anh đều từ xa đến đây, để tham dự Quốc Tế Đại Hội Văn Hóa Việt Nam Mừng Thế Kỷ 21 ở Seattle/Tacoma.
* Buổi trưa thứ bảy. Những anh chị em văn nghệ đang chuẩn bị đi Tacoma Dome. Tôi gặp được nhà văn, nhà báo Duy Sinh (Nguyễn Đức Phúc Khôi). Anh là con trai cả của Bác Nguyễn Đức Quỳnh. Bác Nguyễn Đức Quỳnh tức nhà văn Hoài Đồng Vọng, là tác giả của những truyện Thằng Kình v.v…. nhất là cuốn Vượt Mác (cuốn sách này chưa xuất bản). Bác cũng là lãnh tụ của nhóm Hàn Thuyên, thời của thập niên 1940-1950. Bác cũng là Nhà Tư Tưởng, và tư tưởng của Bác đã phần lớn ảnh hưởng trực tiếp vào sinh hoạt văn hóa, văn nghệ ở miền Nam Việt Nam suốt trong cuộc chiến.
Theo tôi, qua mấy chục năm, cho đến nay, những đổi thay của sinh hoạt chính trị Việt Nam đã diễn ra đều đúng với những viễn kiến của Bác, mà thời đầu của thập niên 1960, Bác đã suy nghĩ và đã trao cho số lớn anh em thường đến thăm Bác rõ. Nhà báo Duy Sinh làm tôi nhớ lại hình ảnh nhà-văn-hóa Nguyễn Đức Quỳnh 40 năm về trước. Khi mới hai mươi tuổi, tôi hay lại để nghe những lời Bác dạy bảo ở Đàm Trường Viễn Kiến. Bác mặc quần áo nâu, trán cao, nằm ngả ở ghế xích-đu. Bác nói về đủ mọi vấn đề. Thời đó, trong hẻm của chùa Từ Quang, bên gốc cây ổi già, dưới mái hiên, tôi dã lui tới hàng ngày bên Bác, để nghe và để học. Cho đến hôm nay, khi ngồi viết những dòng ghi vội này, tôi vẫn thấy những điều Bác nói Đúng và Rất Đúng, mặc dù đã 40 năm xa, và tôi đã trải qua bao thăng trầm.
Những buổi sáng tôi đến thăm Bác, những người ngồi quanh Bác như Lý Đại Nguyên, Phạm Duy, Nghiêm Xuân Hồng, Mai Thảo; lớp dưới tuổi như Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, Trần Dạ Từ, họa sĩ Nguyễn Trung, và nhiều chính khách của Miền Nam, của Sài-Gòn đang ngồi quanh Bác, để lắng nghe Bác trả lời từng câu hỏi, từng thắc mắc.
* Vâng, tôi đang viết những dòng này, buổi sáng ở North Seattle mờ sương. Những sách vở, báo chí quanh tôi. Căn phòng nhỏ bé. Những phiền muộn như tan đi, khi tôi nhớ lại câu nói của một nữ danh ca: ‘…tôi rất hãnh diện khi đã hát ở Tacoma Dome, một nhà vòm mái gỗ lớn nhất địa cầu, đã được tham dự Quốc Tế Đại Hội Văn Hóa này’. Vâng, chị là một danh ca, đã đi hát nhiều nơi trên thế giới. Chị đã cho biết như thế, cũng như một bình luận gia tham dự Đại Hội đã nói với tôi: ‘Anh yên tâm, chớ bi quan. Hãy nhìn ông Quốc Nam. Ông ấy làm, hai mươi lăm năm qua, hơn hai triệu người Việt ở toàn thế giới, ai đã hành động cụ thể, và thiết thực về văn hóa như ông Quốc Nam?’ Anh bạn nói xong, cười tin tưởng, vỗ vai tôi.
Tôi suy nghĩ. Vâng, đã một phần tư thế kỷ trôi qua. Quả thực việc làm của thi sĩ Quốc Nam là một việc lớn, một Sự Kiện Lịch Sử Về Văn Hóa Việt Nam Hải Ngoại, và ngay cả trong nước.
Viết đến đây, tạp ghi về đôi điều cảm nghĩ, những đòi hỏi của thi ca lại vang lên trong tôi. Tiếng của gió nói, của nắng gọi ầm vang.
* Tôi muốn nói một câu – không là huy chương tán thưởng nhau – không vì thiên lệch tình cảm. Tôi muốn gởi cho Quốc Nam, thi sĩ, câu này: ‘Ông đã làm một việc quá lớn, đã đi đúng và đã làm vẻ vang cho người Việt Nam đối với toàn thế giới. Ông hãy tự hào về điều này, vì ông đang làm việc cho Đất Nước và Dân Tộc’.
Thôn Greenwood, North Seattle
Phan Lạc Giang Đông (tháng 5/2000)