Quốc Nam đã kiến tạo được thế giới thi ca cho riêng anh. Người Mỹ thường đánh giá người làm thơ có óc sáng tạo là “TALENTED” tức là Người Làm Thơ có biệt tài. Và người ấy được gọi là “POET”.
Nói tóm lại, giờ đây tôi có thể khẳng định: Từ “THI SĨ” nói chung hoặc “Chiến Sĩ Văn Hoá Việt Nam” nói riêng, rất xứng đáng dành cho nhà thơ/nhà báo Quốc Nam.
Nữ thi sĩ Thư Khanh: Dòng Thơ Quốc-Nam
ru hồn người lưu vong.
Tôi xin nói ngay rằng: Sách thơ xuất bản ngày nay mà bán được một ngàn quyển đã là chuyện hiếm hoi. Thế mà tôi được biết thi sĩ Quốc Nam đã xuất bản tới bốn tập thơ. Lần nào in xong, ra mắt là bán hết. Có một tuyển tập nhan đề là “QUÊ HƯƠNG NƯỚC MẮT”, anh đã tái bản tới lần thứ năm mới đáp ứng đủ cho độc giả, thì đúng là một chuyện lạ. Quả thực tôi vô cùng sửng sốt, và liền tìm kiếm hai thi tập trong bốn tập thơ của thi sĩ Quốc Nam để đọc coi sao.
Tôi đã đến tận văn phòng Saigon Radio để gặp Quốc Nam, và mua bằng được hai tập thơ có tựa đề NGƯỜI TÌNH QUÊ HƯƠNG và QUÊ HƯƠNG NƯỚC MẮT. Sau đó, tôi về nhà đọc thật kỹ cả 2 thi tập; và suy nghĩ, cảm nhận… Tôi xin được nêu vài ý kiến sau đây:
– Tập thơ “Người Tình Quê Hương” có nghĩa rằng người tình của Thi Sĩ chính là Quê Hương Việt Nam thân yêu của chúng ta.
– Tập thơ “Quê Hương Nước Mắt” có nghĩa là con người và dân tộc Việt Nam chúng ta đã quá tủi cực trên một đất nước tràn ngập nước mắt và bất hạnh.
Nguyên nhan đề của 2 tập thơ trên dành cho quê hương dân tộc cũng đã quá rõ nét và rất thu hút độc giả, những tâm hồn yêu thi ca và đất nước Việt Nam.
Thơ là tiếng nói chung của muôn vàn con tim. Vậy thơ Quốc Nam được nhiều người tìm mua thì chắc chắn thơ anh phải đặc sắc và truyền cảm lắm, phải khiến độc giả khi đọc lên thấy ngay được nỗi lòng mình trải dài trong những dòng thơ ấy. Rồi người nọ đồn đãi thơ Quốc Nam hay, người kia đồn thơ Quốc Nam độc đáo, thì thơ anh mới ấn hành được tới 5 ngàn quyển chứ! Còn nếu thơ Quốc Nam không thực sự hay, khi thấy quảng cáo rầm rộ, người ta bỏ tiền mua một lần rồi đồn nhau thơ dở ẹt thì ai mà thèm mua nữa, để Quốc Nam in thêm sách thơ.
Tôi yêu thơ và làm thơ từ thuở ngồi ghế ngôi trường nữ trung học Trưng Vương (Sài-Gòn). Theo cá nhân tôi, dòng thơ lãng mạn viết cho quê hương dân tộc của thi sĩ Quốc Nam có thể được hầu hết những người Việt mến mộ, nếu họ có dịp đọc được thơ anh.
***
Thi tập NGƯỜI TÌNH QUÊ HƯƠNG.- Mặt Bìa Trước nền xanh da trời (nền trời Việt Nam muôn thuở). Phiá trái là tranh hí họa của họa sĩ lừng danh CHOÉ: Quốc Nam hai tay đang cầm cây bút trong tư thế sẵn sàng viết – ngòi bút đang chảy mực. Bên góc mặt phía dưới có in hàng chữ : Đông Phương Foundation – In lần thứ 3 (2004).
Mặt bìa sau: In hình Thi Sĩ Quốc Nam – thật đẹp trai trong bộ áo vest xanh lá cây đậm, đứng trước Micro trong lễ khánh thành KHU VƯỜN VĂN HOÁ VN đầu tiên ở hải ngoại (Công Viên Tượng Vàng Việt Nam) ngày 21/8/1999, với tượng đài cao 12 feet, do anh sáng lập tại Seattle – Hoa Kỳ. Bên trong bìa là những trang thơ – dày 196 trang – giấy trắng. Cảm giác đầu tiên khi cầm tập thơ này là muốn mở đọc ngay. Bên trong Quốc Nam đã chia từng phần rõ rệt. Chứng tỏ ông là Người Tình Của Quê Hương, chứ không luộm thuộm như nhiều Người Tình Bình Thường làm thơ khác.Ngay lời giới thiệu cũng không phải úp mở nhờ “tên tuổi” nào đề tựa, mà là chính Thi Sĩ Quốc Nam nói lên – tự xác định Lòng Mình Nghĩ Gì Muốn Gì. Vâng, Thi Sĩ tự cho chúng ta thấy Quốc Nam là Tình Quân của Quê Hương Việt Nam (Coi trang 19 – Thư Gởi Người Tình Quê Hương Thay Lời Mở Đầu).
Đọc những trang thơ kế: Từ trang 21 đến 102 (trong đó có 3 bài thơ đã được phổ nhạc). Tôi được thưởng thức cái THI VỊ của thơ – Những Tư Tưởng của tác giả gửi gấm trong đó.
Về phần Tư Tưởng trong thơ Quốc Nam nơi tập này thì rất rõ ràng. Anh đã khẳng định tất cả ngay trong Nhan Đề của tập thơ là tất cả dành cho QUÊ HƯƠNG. Anh đã yêu Quê Huơng tha thiết – Quê Hương chính là Người Tình Trăm Năm của Thi Sĩ. Dù các tiêu đề của các bài thơ có khác nhau, song tư tưởng của Quốc Nam đều chú tâm tới Tình Yêu Quê Hương. Độc giả có thể cảm thấy như đang nghe bài thơ đề tặng một người đẹp tình nhân, nhưng thực ra là để thi vị hoá cho dòng thơ Quốc Nam. Vậy tôi xin được cảm nhận thế đó, như tác gỉa đã khẳng định ngay từ trang đầu bài tựa cho tập thơ rồi.
Phần cấu trúc thơ của Quốc Nam trong những trang thơ Người Tình Quê Hương, tôi xin được thưa rằng Quốc Nam là thi Sĩ làm thơ có vần điệu, chứ không làm thơ tự do.
Đó là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. Bài ÁO DÀI QUÊ HƯƠNG (trang 21) có những câu đầy thi vị, nên nhạc sĩ Trung Nhật đã phổ nhạc (in ở trang 97). Toàn bài như sau:
* Áo tím em mang, trời diễm ảo,
Tôi còn ngây ngất. Máu xôn xao.
Buổi trưa chợt cảm lòng mưa bão,
Một chút hương bay đã ngọt ngào.
* Áo dài em tím đẹp nhân gian,
Tiếng guốc khua vang. Nhạc thoát trần.
Đôi mắt long lanh, môi thắm nở,
Bàn chân em dẫm nát thơ chăng?
* Tôi với em ngày nao rất lạ,
Gặp nhau thoáng chốc, hững hờ tay.
Một hôm bỗng thấy em xinh quá,
Trong cánh áo dài, căng gió mây.
* Từ đó, hồn tôi rừng lãng mạn,
Gọi em áo tím, trái tim hồng.
Em là cõi mộng, ngàn vương vấn,
Em đã áo dài tím sắc hương.
* Em ạ! Tôi yêu màu áo tím,
Bóng hình mở sáng một quê hương
Mốt mai trên nẻo đường vô định,
Tà áo em dài những nhớ thương.
Bài “CAO NGUYÊN TÌNH XANH”, ta đọc được những câu thơ đẹp như bức họa và đầy tình tứ :
* Tôi trở về đây. Chiều bỗng xanh.
Cao nguyên nghe tiếng thở thân tình.
Dốc lên phố thị chừng lưu luyến.
Nào có ai chờ chờ cuối khúc quanh?
Hoặc :
* Bao tháng năm buồn như đá núi.
Tôi xa quê cũ. Hận âm thầm.
Em yêu, khổ nhục, đêm ngày đợi.
Một sớm tôi thành Cứu Quốc Quân
* Mắt em xanh bóng hồ Than Thở.
Trên đỉnh Lâm Viên tắt ánh hồng.
Lính chiến, tôi quen đời khốn khổ.
Nhìn mình chợt thấy bại lưu vong.
* Tôi trở về đây, mùa gió hoang.
Có em ngóng đợi rất âm thầm.
Niềm vui chợt mở xa sầu tủi.
Trời cũ cao nguyên đất biếc xanh.
* Tình quê một cõi bạt ngàn thông.
Nắng ấm đâu đây, dậy lửa hồng.
Bằng hữu dăm người còn nghĩa lớn,
Hẹn nhau xây dựng đẹp quê hương.
– Nỗi khắc khoải khi Thi Sĩ đang trên Cao Nguyên Tình Xanh tại Seattle thì chợt nghĩ ngay tới Quê Hương và thân phận mình, bạn hữu cùng chí hướng – nghĩ tới phải làm gì cứu Người Tình Quê Hương:
* Tôi gọi cao nguyên Tây Bắc ơi!
Giữ niền tin tưởng một ngày mai.
Đoàn quân quyết bạt sông và núi.
Em hãy cùng tôi cứu giống nòi .
* Em ạ! Nơi đây tình có thật.
Cỏ hoa tươi thắm , mộng lưng đồi.
Trăng sao ngọc bích trên tầng tháp.
Tôi đón em về thơm mắt môi.
– Bài 9 ĐOẢN KHÚC TÔI trang 50-51 Tác gỉa đã nói lên sự đau xót của mình ở thời điểm 45 tuổi:
* Tháng chín tôi xa lìa dấu đạn,
Vết thương chinh chiến tách riêng người.
Bàn tay em có đôi lần chạm
Da thịt tôi, qua giấc mộng đời…
* Tháng chín tôi, em, vầng nhật nguyệt,
Một ngày sinh nhật, một buồn thêm.
Đôi bờ ân ái, sâu lòng huyệt,
Nhan sắc, riêng nhau một nỗi niềm.
* Tháng chín tôi về gọi nắng phai,
Em đi trải lụa dấu chân lầy.
Đêm tôi, tay thả trên cồn ngực,
Môi mắt còn in kỷ niệm đầy.
B) Về thơ Lục bát tôi cũng bắt gặp đầy những bài thơ mang tính Thơ không đều đều như lời Ca Dao hay vè! Thơ Lục bát của Quốc Nam thường bóng bẩy như dòng thơ trong Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du) và đầy nhạc hoạ trong thơ.
Tỉ dụ trong Bài Tình Xanh số 2 (trang 26) và số 3 (trang 27) – bài Gọi Nhau Bốn Mùa (trang 34) – Bài Tình Say (trang 41):
Tôi trên đỉnh gió, dạt dào,
Rừng thông khuất bóng, xôn xao tình nồng.
Tôi về, em có về không?
Xót xa vẫn mãi đôi giòng lệ băng.
Cao nguyên chừ đã mênh mang,
Tôi trên giòng thác, tình xanh nhận chìm.
Em đi mất nẻo chân chim,
Có tôi, kỷ niệm thành đêm mộng buồn.
Bàn tay mấy ngón chảy tuôn,
Mùa thu bỗng mở bản trường ca điên.
Hẹn nhau kiếp khác nhé em,
Với non nước cũ, với thêm máu đào.
Thân tôi, cõi tạm, xin chào,
Rời xa cuộc chiến, tìm cao nguyên tình.
Màu ‘Alpha Đỏ’ lung linh,
Nàng thơ áo tím hiện hình trong tôi.
(Bài Tình Xanh số 2)
– Trong bài Cao Nguyên Tình Xanh Số 3 :
Chào em đôi mắt sáng hồng,
Thơm giòng lệ rỏ đầu sông cuối hồ.
Tóc bay huyền thoại bây giờ,
Hồn tôi phương đó còn ngờ vực sao.
Cao nguyên thức giấc xôn xao,
Nụ tình xanh mở. Em trao dáng mềm.
Tôi đi giữa phố phường quen,
Quê hương khuất nẻo phía miền lao đao.
Thái Bình Dương sóng dạt dào.
Em quê nhà vọng trăng sao phương này.
Tôi trên triền núi mây bay,
Hát nghêu ngao khúc ‘đong đầy tình xanh’.
(Bài Tình Xanh số 3)
– Bài ‘Gọi Nhau Bốn Mùa’ lãng mạn một cách dễ thương:
Tháng xuân anh hái nụ vàng,
Đầu năm nhung nhớ, một vầng trăng khuya.
Tháng hè anh chuyến đi xa,
Đại hồ chuyển sóng, kinh qua cuộc tình.
Yêu em cách vạn núi sông,
Vẫn ôm ấp mộng, tâm hồn giao nhau.
Tháng mùa thu bỗng mưa ngâu,
Khóc trong giấc ngủ, bạt màu thời gian.
Dù cho cách trở quan san,
Tim anh đã ngập dung nhan chín mùi.
Yêu em, ly cách ngậm ngùi,
Nghe như biển động, cho dài nỗi đêm.
Tháng đông nhớ nụ hôn mềm,
Anh tìm hơi thở. Gọi em ngàn đời.
(Gọi Nhau Bốn Mùa)
– Bài TÌNH SAY (trang 41) : Rất tình tứ! Quốc Nam yêu Quê Hương cứ như yêu Người Thật bằng xương bằng thịt:
Gọi em cuối giấc chiêm bao,
Trái tim nhịp khuất. Hương ngào ngạt bay.
Hôn em giữa gối chăn đầy,
Giữa đêm ảo giác. Anh say tình nồng.
Sáng nay trời chớm sang đông,
Mù sương con gái, rực hồng cao nguyên.
Nhớ em quay quắt, thân mềm,
Thơm đôi má phấn, thoáng miền sông thu.
Nhớ em vạn dặm sầu tư,
Tuyết đêm sẽ lấp mấy từ tạ nhau.
Môi hôn nhuốm chút men sầu,
Tình ta nhỏ giọt mưa ngâu tuyệt vời.
Nhớ không em, phút chạm đời,
Gọi tên yêu dấu, chơi vơi dáng gầy.
Mai qua phố cũ, tỉnh say,
Anh mơ tập vẽ chân mày mỹ nhân.
(Tình Say)
C.- Lọai thơ 5 chữ cũng rất xuất sắc: Bài Thung Lũng Hoa Vàng (đã phổ nhạc bởi nhạc sĩ Trung Nhật – trang 101), Bài Trái Long Lanh (trang 61):
* Gọi tên em yêu dấu,
Một ngày trong mọi ngày.
Anh ngất ngây ấp ủ,
Bóng em tràn đâu đây.
* Với nhau, yêu dấu ạ,
Tình yêu ta thăng hoa.
Bờ môi nào buông thả,
Bàn tay nào giao thoa.
* Anh yêu đôi mắt thẳm,
Như mất hút trùng khơi.
Nét môi em phô thắm,
Đêm, anh, giấc mê đời.
* Hãy trọn vẹn, yêu dấu,
Anh ngàn năm yêu em.
Kiếp sau còn kết nụ,
Trăm năm mối lương duyên.
* Em là ánh sao xanh,
Hy vọng một đời anh.
Giữ nhau nụ ân ái,
Kết thành trái long lanh.
(Trái Long Lanh)
D) Thơ 6 chữ cũng vô vàn xúc cảm: Bài Xác Khổ (được nhạc sĩ Trần Quang Long phổ nhạc – trang 99).
* Từng khuya nghe niềm hiu hắt.
Máu khô, bật khóc dáng ngồi.
Em tôi giữa đời đánh mất.
Còn chi, tuổi ngọc đôi mươi.
* Em đã, quê hương bi kịch,
Tìm nhau cuối mộ địa sâu?
Máu loang đỏ vùng u tịch,
Cờ bay chỉ thấy ngục sầu.
* Em tôi đói cơm, khát nước.
Mộng thường chợt thành cao xa.
Tôi nơi phương Tây khổ nhọc.
Cứu em đã muộn, cuồng ca.
* Mắt khép, em xuôi tay nhỏ,
Xác vô thừa nhận, muộn phiền.
Quạnh hiu, trăm năm, bật vỡ,
Tôi mang ân hận thiên niên.
* Em gái tôi ơi! Xác khổ.
Ngủ đi, anh vuốt mắt em.
Tháng tư hoen màu Cờ Đỏ,
Lìa nhau, hồn đã nát mềm.
(Tháng tư 1994)
E) Thơ 8 chữ của Quốc Nam đã xuất sắc lột tả được tư tưởng của anh – tài tình trong bài: Địa chỉ tôi (trang 22). Bài Ngây Ngất (trang 35). Bài Hờn Ghen Cỏ Hồng (trang 37):
* Yêu dấu hỡi, anh gọi em vạn dặm,
Trời sương mù cho mắt giận hờn anh.
Đêm thức suốt. Yêu thương em nhiều lắm,
Sao nỗi buồn, anh nghe giọt long lanh.
* Hờn ghen đó, đôi trái tim mở ngỏ,
Anh một mình, một bóng, một hình em.
Em có nghe hồn anh chợt rũ mềm,
Trong hơi thở em qua đường điện thoại.
Dù cách trở, dù tình ta ngang trái,
Anh ngàn năm vẫn yêu dáng cỏ hồng.
Trời giận ta hay là muốn thử lòng?
Bóng tối phủ, rồi cũng qua hư ảo.
Em yêu dấu, anh gọi em, mắt đỏ,
Với nhau một ngày thành nghĩa thiên thu.
Vòng ôm đam mê một kiếp ngục tù,
Anh vạn dặm gửi về em tất cả…
Dù ngăn cách, đường cao nguyên vất vả,
Anh giữ lời thề mãi mãi yêu em.
Trọn vẹn nghe những thắp sáng êm đềm,
Những khao khát của tâm hồn thể xác.
* Yêu dấu ạ, mơ cũng thành sự thật,
Anh sẽ cùng em về bến sông xưa.
Chùm hoa soan lấp lánh bóng hàng dừa,
Anh dìu em giữa hương thơm quê mẹ.
(Bài Hờn Ghen Cỏ Hồng)
Đó là những phần mà tôi nhận xét về thơ của thi sĩ Quốc Nam trong tập thơ “NGƯỜI TÌNH QUÊ HƯƠNG”.
***
Thi tập trước là “QUÊ HƯƠNG NƯỚC MẮT” – Đông Phương Foundation – In lần thứ 5 (2003). Về Hình Thức: Bìa Mặt – Nền trắng và tím. Hình ảnh Quốc-Nam vẽ bởi hoạ sĩ Nguyễn Đại Giang. Mặt Quốc Nam đang hướng nhìn về chân trời tím, với đầy nỗi ưu tư. Bìa sau: Hình chụp Quốc Nam & 3 thi sĩ khác trong “Ngày Thi Ca Việt Nam” đầu tiên ở Hải Ngoại tại San Jose (California, USA) ngày 5 tháng 5/1991. Bốn thi sĩ này là Hà Thượng Nhân, Hoàng Anh Tuấn, Nguyên Sa & Quốc Nam. Sách dày 196 trang. Giấy và khổ giấy như tập trên. Những bài thơ trong tập này nội dung cũng là Tình Quê Hương như tác giả đã khẳng định. Về thể thơ anh xử dụng cũng là thơ có vần và thơ tám chữ.

Phần bìa mặt trước thi tập “QUÊ HƯƠNG NƯỚC MẮT” như tôi đã giới thiệu, đã gói ghém Nội Dung cho những Bài Thơ cuả Quốc Nam in bên trong. Vẻ mặt Quốc Nam trong hình vẽ đầy ưu tư, sầu hận, cay đắng của ông nhìn về tấm màn nhung mầu Tím với bốn chữ màu trắng viết trên đó: QUÊ HƯƠNG NƯỚC MẮT. Vâng, đọc Thơ của Quốc Nam bên trong mới càng rõ hơn về tâm tư tình cảm của Thi Sĩ đối với Quê Hương Dân Tộc. Tôi đọc được trong tác phẩm này nhiều nhất là thơ 8 chữ . Thơ thất ngôn tứ tuyệt ít hơn . Thơ ngũ ngôn tứ tuyệt cũng ít hơn. Đặc biệt có một bài lục bát thực xuất sắc “MÊ HOANG” ở trang 32. Đi sâu vào từng bài thơ tôi xin được có ít nhận xét :
1- Trong thi tập QHNM chỉ một bài “Mê Hoang” lục bát duy nhất. Tôi say mê gần như trọn vẹn bài thơ :
Nắng lên giọt nắng hao gầy,
Ta tương tư thuở còn đầy môi em.
Xứ người quạnh quẽ từng đêm,
Nghe hơi em thở càng thêm đắng hồn.
Nụ cười đâu đó xanh trong,
Mắt em ta ngỡ quê hương hiện hình.
Giấc mơ cay mắt ân tình,
Lộ khuya tuyết đổ bóng nghiêng (*) tủi buồn.
Ở đây ở đó xa không,
Mùa thu kỷ niệm còn trông ngóng gì.
Về qua vùng nắng Cali,
Ta không thể nói một lời (*) nào thêm.
Ơi người con gái Việt Nam,
Tiếng em trong suốt hồn trầm tình quê.
Gởi em một chút hoang mê .
(Tháng 9-1977)
Quả thật, chúng ta là kẻ lưu vong, nên khi đọc bài thơ này thì sẽ thấy tác gỉa nói dùm mình nỗi nhớ quê vô cùng. Bởi nhạc điệu hình ảnh (nhạc hoạ trong thơ) đã giúp tâm tư nhớ quê hương trở nên dào dạt và thi vị. Nhưng có 2 chỗ tôi đánh dấu hoa thị (*) thì có lẽ hơi bị lệch vần, nên nhạc điệu trong thơ ở hai câu này bị lõi chõi đôi chút .
2- Đọc qua thơ thất ngôn tứ tuyệt: Quốc Nam làm rất thành công. Thơ anh đã làm tôi rung động qua bài “Giữ Lửa Quê Hương” trang 51- 52. Lời đẹp ý hay – Cái hay trong tư tưởng là đã nói lên được tâm tư tình cảm giùm đồng bào đang sống lưu vong . Cái đẹp là anh đã dùng những từ rất gợi hình để cho ta dễ rung cảm. Tỉ như :
Đã biết bao năm ta hỏi em.
Mùa xuân hờ hững đến bên thềm.
Hay trời xứ lạ lòng ta buốt.
Có sóng trùng dương trong mắt đêm.
……
Giữ lửa cho nhau em hỡi em.
Để ta yêu mãi dáng ngoan hiền.
Hỡi người tình trẻ xuân kiều diễm.
Tiếng hát em vang dậy khắp miền
……
Đã biết bao năm ta hỏi em.
Tết này ai lạnh lẽo bưng biền…
Giúp ta một buổi đăng trình sớm.
Cắm lại Cờ Vàng trên đất thiêng.
(Seattle- Tết qúy Hợi 1983)
Vâng, có mấy ai trong chúng ta còn tưởng gì đến cái Tết ở đây? – Hầu như ngày Tết đi làm – thời tiết thì khắc nghiệt. Tối 30 hay mồng một đi làm về thắp vội nén nhang. Rồi quay qua cái điện thoại ôm lấy mà gọi về Việt Nam …- Mà nhớ bà con nghèo đói trong ngày Tết và bạn bè đang tù tội trong trại Cải tạo …! Thì với bài này, Quốc Nam đã nói lên rất trọn vẹn.
Qua bài “MÙA XUÂN TRÊN THUNG LŨNG HOA VÀNG”, Tác giả tả cái Tết ở Cali: Có lẽ vì ảnh hưởng thời tiết bớt lạnh hơn ở Seattle và Người Việt Di Tản ơ Cali đông hơn, nên bài thơ mang mầu vui vẻ tin yêu hơn. Khi đọc ta thấy đầy hình ảnh và nhạc thơ của ngày Xuân đang rộn ràng nơi xứ lạ. Dù rằng có nghĩ tới nỗi thống khổ của Quê Hương:
Xuôi nam mơ nắng trên tà áo.
Ta lại một lần bỏ bến cao.
Từ buổi mưa bay mờ dáng nhỏ.
Thông reo ta ngỡ xứ hoa đào.
……
Chào em đôi mắt long lanh sáng,
Tình vẫn đông phương đẹp ngút trời.
Ta đếm nụ xuân trên sóng tóc.
Xanh màu kỷ niệm chút duyên thôi .
Giao thừa ta đốt trầm hương ngát,
Xin những bàn tay xích lại cùng.
Thung Lũng Hoa Vàng xuân mới nở,
Cùng nhau dựng lại một quê hương.
Quê hương vẫn khổ đau trăm nỗi,
Bao chục triệu người đói lạnh căm.
Ta gọi em về trong ngóng đợi,
Việt Nam mùa tới đẹp tình xuân (?)
Xuôi Nam mơ nắng trên tà áo,
Ta thấy Cali đã rộn ràng.
Một góc trời nam giăng nẻo phố,
Về đây thắt chặt giải đồng tâm.
(Tết giáp tý 1984)
Chúng ta được thấy rõ bức tranh Xuân ở Cali và tâm tư tình cảm của tác giả cũng là chung của chúng ta khi bỏ quê hương đi lưu vong. Nhưng ở bài này vui tươi – tin tưởng ở tương lai hơn .
3- Thơ ngũ ngôn tứ tuyệt của Quốc Nam tôi thấy ít hơn. Song cũng không kém phần truyền cảm. Thơ cần có Tư Tưởng và Kỹ thuật Diễn Đạt truyền cảm đến độc giả – thì Quốc Nam đã làm được điều này trong tất cả thể loại thơ. Dù thơ 5 chữ:
– Bài “DÒNG SÔNG THÁNH ĐỊA” (trang 30-31)
* Vơi một nửa dòng đời
ta say cơn nắng hạ
giấc mộng đã xa vời
bờ sông xanh bỗng lạ.
* Còn gì mà mong nhau
quê hương đầy bất hạnh
lửa cháy trĩu ngang đầu
qua ngày dài giá lạnh
em trào lệ run đau.
* Ta thấy em ru đêm
ngà ngọc đâu còn nữa
mười ngón tay máu đổ
mắt sao thành loạn điên
xuôi giòng đời tủi hổ
mất rồi nỗi lòng riêng.
* Ta băng Thái Bình Dương
hồn vẫn còn ở đó
con tàu qua đêm trường
mộng đời thành bão tố
ôi ngày dài quê hương.
* Con đường xưa em sang
khu trường đua Phú Thọ
hàng cây chừ bỡ ngỡ
những bàn tay nhục nhằn
đưa em vào đổ vỡ.
* Cho ta nhắn bạn bè
và người tình phố nhỏ
một đời ta nhung nhớ
một đời ta còn nghe
tiếng sáo diều trong gió
lời em hát chiều quê
trên bờ sông thánh địa
(Tháng 8/1977)
– Bài “TUỔI TRẺ LƯU VONG” (Trang 38-40)
* Trên dốc chiều cuối phố,
Anh nhạt nhòa cô đơn,
Giữa đèn hoa rực rỡ,
Anh như kẻ không hồn.
* Thoáng năm năm về trước,
Anh, chiến sĩ can trường.
Tay súng đời ngang dọc,
Quyết bảo vệ quê hương,
Ngăn giặc thù tiến bước.
* Đêm Hoa Kỳ rực sáng,
Sao lòng anh tối đen!
Nỗi buồn vong quốc nặng,
Như đá tảng oan khiên.
* Tôi, anh lần giáp mặt,
Kể chuyện đời chiến binh.
Đêm biển dài ngút mắt,
Mong một sớm hòa bình,
Nhưng mộng thành vỡ nát.
* Trời Hoa Kỳ vẫn sáng,
Anh có nghe gì không?
Việt Nam vừa chuyển động.
Những tay súng oai hùng,
Quyết vùng lên cách mạng.
* Anh hưởng thụ được không (?)
Khi hàng hàng lớp lớp,
Đã đứng lên một lòng,
Phá gông cùm nhơ nhớp,
Loài quỷ đỏ vô lương.
* Anh, tôi thông cảm nhau,
Chưa bao giờ như thế.
Yên lặng mãi được sao?
Uống máu này tuyên thệ,
Phải trở về quê xưa.
* Như bài ca Do Thái.
Hai ngàn năm vẫn vang,
Trên lưu vong đầy ải,
Trên sỏi đá Trung Đông.
* Quê hương xa sao được,
Nhất định máu tôi, anh,
Những tuổi trẻ oai hùng,
Đã một thời giữ nước.
Nay góp lại thành rừng,
Bao vây loài độc ác,
Dành lại đất quê hương
(Seattle 1979)
4- THƠ 8 chữ trong tập này .Tôi nhận thấy Quốc Nam đã dùng thể loại này trong nhiều bài nhất và đã thành công .Trong bài HÃY TRỞ LẠI QUÊ HƯƠNG LÀM LỊCH SỬ (Trang 16-18). Khi đọc bài này tôi còn như đang ở Việt Nam những thời sôi sục đấu tranh với Cộng Sản. Khu kháng chiến của Công Giáo Thủy Nhai (Nam Định, Bắc Việt) – Khu Hậu Nghĩa (trong Nam Việt). Tác giả đã đích thân góp sức xây dựng quê hương, được diễn tả khá đầy đủ. Và cũng quyết tâm phải về xây dựng lại Quê Hương .
Ta ngồi đây nghe hồn quê giục giã,
Tiếng vọng anh em phục Quốc âm thầm.
Quê hương khổ đau nước mắt ngập tràn,
Dân ta khóc rung vùng trời Đông Á.
Hãy góp lại những bàn tay sắt đá,
Vạn triệu tâm hồn yêu nước hôm nay.
Lòng kiên cường bất khuất ngút sông dài,
Nung chí lớn, cứu Việt Nam tăm tối.
Ta, tuổi trẻ , một lời nguyền trở lại,
Ôm đất quê hương nước mắt đã tràn.
Nhìn Việt Nam rồi gục chết cũng đành,
Trời phải sáng cho dân ta hạnh phúc.
Bài thơ như một bài Tuyên ngôn không bóng bẩy, để thêm phần mạnh mẽ khẳng định cho lý tưởng sẽ biến thành hành động.
Bài CHO NGƯỜI TÌNH Ở LẠI mang đầy đau thương lồng trong lãng mạn.Nên đọc rất xúc động:
* Dứt lìa quê hương, tim trần rạn vỡ
nỗi tủi buồn nào hơn thế không em?!
ta xa em giờ đong nỗi muộn phiền,
cơn nước lũ xoáy hồn ta chết ngất.
* Đường em đi cánh đồng xanh bát ngát,
lúa trĩu vàng có thấy nắng mùa xuân?
thở đi em cho quên nắng muộn màng,
bom đã nổ… đêm đã đầy tiếng khóc.
em ở lại với tháng ngày rêu mốc,
cháy tâm tình trong vận nước đổi thay.
giờ phương nào tù ngục sẽ bủa vây,
chùm bóng tối xây mộ phần đau đớn.
* Ta nhớ em đến vô cùng vô tận,
giọt máu ân tình đã đọng trong em.
ta yêu em trên đồng lúa bình nguyên,
thơm mùi cỏ, căng trái cây ngọt lịm.
và ta bỏ đi không lời bịn rịn,
không nụ hôn, không lời chúc cho con.
con ra đời không cả chiếc nôi hồng,
mẹ tủi nhục trong vùng kinh tế mới.
Rất hay. Như đoạn cuối:
Ta tự hỏi tới ngày con đầy tuổi,
Lời trần tình từ Mỹ gửi về em.
Em gửi trả bức điện tín ướt mềm:
“Con đã chết và quê hương giẫy chết!”
Nước mắt ta thành dòng sông bất diệt,
Nghiền nát hồn trong vũng máu quê hương.
(Tháng 7/1977)
Loại thơ 8 chữ còn nhiều bài đặc sắc như các bài: Vĩnh Biệt Mẹ Cha (trang 65-66), Nói Với Cha (trang 46-47), Vành Khăn Cho Quê Hương (Trang 49-50), Đưa Mẹ Về Quê Hương (trang 53-54). Chúng ta thử đọc đọan cuối bài này:
Ta gọi tên Mẹ nhiều đêm tuyết đổ,
Nước mắt lưu vong ray rứt lòng nhau.
Đời thi nhân vấn tang trắng cúi đầu.
Vắt máu tim thành thơ dâng Tổ Quốc .
Bài “CHO CON QUÊ HƯƠNG SẼ LỚN” (trang 64):
… Bố muốn thét, cho niềm vui òa vỡ.
Con lớn lên chia ước mơ cùng bố:
Một mgày nào quyét sạch lũ Cộng Nô…
Việt Nam ơi! Thương biết đến bao giờ,
Bố con ta về dựng người cứu nước…
Triệu người lưu vong gọi mãi Việt Nam.
Nhưng quê ta ngày mai rồi lớn dậy,
Khúc hát thanh bình rộn rã không gian.
(tháng 4/1984)
Đến đây, có thể như tôi đã viết gần trọn vẹn về tập thơ “QUÊ HƯƠNG NƯỚC MẮT” của thi Sĩ Quốc Nam. Tôi có thể nói rằng tập thơ này được Đồng Bào đón nhận nồng hậu, khiến tác giả đã in được tới lần thư 5 (tức tái bản lần thứ tư) là đúng. Bởi xét về Nội Dung tác giả nói tới QUÊ HƯƠNG NƯỚC MĂT, đề cập tới những khổ đau của người người ở lại trong hoàn cảnh Đất Nước bị Cộng Sản Cưỡng Chiếm: Đói nghèo, củ khoai không có mà ăn đủ – đi kinh tế mới, không có cơm mà ăn, không có áo mà mặc – nhà cửa bị tịch thu – Bạn hữu cũ thì đi tù hết trong trại giam vô hạn định (Trại Tù Cải Tạo) – nào có xử án đâu mà biết ngày về! Không có Tự Do Dân Chủ và Tự Do Tôn Giáo…
– Lãnh đạo tôn giáo đi tù rất nhiều trong các trại tù giam! Chùa chiền và Giáo xứ bị kiểm soát và thu hẹp. Nên ngay từ bìa của Tập thơ tác giả đã chỉ nhìn Quê hương sau tấm màn Tím! Tâm tư tình cảm của tác giả đã được chuyên chở đến cho độc giả bằng những bài thơ mang vần điệu hoặc tám chữ. Có những ngôn từ mới mà tác giả sáng tạo được, không nhai lại của ai. Nói tóm lại, Thơ mang Tư Tưởng – Quê Hương và Đấu Tranh trong tập “Quê Hương Nước Mắt” mà Quốc Nam diễn tả, đã có thể lôi cuốn độc gỉa đến độ sách thơ được tái bản nhiều lần. Đó quả là SỰ THÀNH CÔNG CỦA THƠ vậy.
***
Ngoài ra, trong chốn riêng tư, tôi từng nói với Quốc-Nam rằng: Thể thơ “thất ngôn tứ tuyệt” của anh đã gây xúc động người yêu thơ không thua gì thơ Quang-Dũng. Anh đã kiến tạo được nhạc điệu trong thơ hoàn toàn khác với các thi sĩ đương thời. Nhất là họa trong thơ Quốc Nam, tràn đầy màu sắc và hình ảnh sinh động. Đọc thơ Quốc Nam, tôi có cảm nghĩ đó là những dòng văn vần thoát ra từ trái tim và trí não anh một cách tự nhiên, không hề vay mượn hoặc gò bó vần điệu.
Điều này có lẽ một phần do huyết thống văn thơ dòng họ Nguyễn từ ông nội của thi sĩ, bởi đôi lần anh nói với tôi: Ông nội anh là một thầy đồ rất thông thạo chữ Nho và làm thơ nổi danh khắp quận Xuân Trường tỉnh Nam Định (nơi sinh trưởng của Quốc Nam).
Như thế, trong suốt nửa thế kỷ làm thơ (1956-2008), thi sĩ chúng ta đã sáng tạo được khá nhiều “từ” mới cho thơ. Điều này giới thi ca Mỹ gọi là “CREATIVE WORDS for POEMS”.
Vâng, Quốc Nam đã kiến tạo được thế giới thi ca cho riêng anh. Người Mỹ thường đánh giá người làm thơ có óc sáng tạo là “TALENTED” tức là Người Làm Thơ có biệt tài. Và người ấy được gọi là “POET”.
Nói tóm lại, giờ đây tôi có thể khẳng định: Từ “THI SĨ” nói chung hoặc “Chiến Sĩ Văn Hoá Việt Nam” nói riêng, rất xứng đáng dành cho nhà thơ/nhà báo Quốc Nam.
Seattle, ngày 2 tháng 7 năm 2008.
THƯ KHANH
LTS.- Nhà thơ nữ Thư Khanh sinh tại Nam Định (Bắc Việt), lớn lên ở Hà-Nội, và trưởng thành ở đô thành Sài-Gòn (Nam Việt). Cựu nữ sinh trung học Trưng Vương. Trước năm 1975, bà mưu sinh bằng nghề dạy học. Bà đã cầm bút làm thơ viết văn từ cuối thập niên 60. Tại hải ngoại, những bài viết của nhà thơ Thư Khanh đã đăng rải rác trên một số báo chí khắp nơi, đặc biệt là tạp chí Hải Ngoại Nhân Văn và báo Đông Phương SRBS. Hiện bà đặc trách chương trình “Đọc Thơ Cho Nhau” trên Hệ Thống Truyền Thanh Saigon SRBS. Thi tập đầu tay của Thư Khanh là “Trăn Trở” (xb. 2006). Trên đây là bài viết của Bà dành cho Nhà thơ/nhà báo kỳ cựu Quốc-Nam.