Kính Chuyển Phần Chủ Đề: Gần 50 Năm Tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa, Sao VN Chưa Thấy…Thiên Đàng!
Đọc Để Thấy “Kẻ Ác” Đã Thắng Cuộc Chiến, Gần Nửa Thế Kỷ Sau, Vẫn Cái Tâm Dã Man Trả Thù Bên Thua Cuộc! Nhất Là Với Cô Bé Gái Ca Sĩ Có Gốc VNCH Gần Đây, Tâm Địa Hèn Hạ Như Thế, Hèn Gì Mà Không… Xuống Hố Cả Nước! (XHCN! So Sánh, Kết Thúc Cuộc Chiến Nhìn Lại: Tại Sao Mỹ Thành Cường Quốc! Chiến Tranh Nam Bắc Mỹ (1861-1865), Hình Ảnh Đẹp, Qua Địa Điểm Đầu Hàng Lịch Sử Tại Appomattox!Lịch sử là những sự thật và thường là bài học lập lại, liên hệ đến tương lai. (Những nhân vật đóng vai trong lịch sử, dù muốn dù không, hành động của họ cũng ảnh hưởng đến tương lai của cả một quốc gia, mà họ là Công dân. Cuộc chiến tranh Nam Bắc Mỹ (1861-1865), có những điểm tương đồng và dị biệt với cuộc chiến tranh Việt Nam.
Nhưng cách kết thúc hoàn toàn khác nhau. Đưa đến tương lai đất nước hoàn toàn khác nhau, một bên thành cường quốc số một thế giới, một bên thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới!
Riêng Mỹ, số thương vong rất cao, chiến tranh Nam Bắc Mỹ làm thiệt mạng gần 600.000 quân lính hai bên, chỉ trong vòng 4 năm. Số thương vong của cuộc chiến tranh Việt Nam, tuy không có số thống kê chánh thức, nhưng ít ra cũng 4,5 lần nhiều hơn, trong 20 năm cuộc chiến Quốc & Cộng.
Khác nhau là Bắc Mỹ tranh đấu cho lý tưởng giải phóng nô lệ đã thắng! Miền Nam Việt Nam, có lý tưởng tranh đấu cho lý tưởng tự do dân chủ, thì lại thất trận! Nhưng có một điểm khác biệt quan trọng hơn hết, đó là cung cách cao thượng hay hèn hạ, trong thời điểm kết thúc cuộc chiến.
Mỹ: Những bãi chiến trường và nghĩa trang quân đội của hai miền Nam Bắc Mỹ cùng chôn chung hiện nay, là di tích lịch sử trân quý, của quốc gia Hoa Kỳ. Ông cha họ, không có trả thù, phe thắng, không coi chiến thắng là vinh quang.
Cộng Sản Việt Nam thì khác: Kết thúc của cuộc chiến tranh Việt Nam, tắm máu là hận thù! “Giết giết giết! bàn tay không ngừng nghỉ!” Hàng trăm ngàn người Lính bên thua cuộc, bị lùa vào trại cải tạo, (thật ra là trại tù, không có bản án, không có ngày ra!) Lùa hàng triệu người đi kinh tế mới, để cướp nhà cướp của. Ngụy quân, ngụy quyền, trở thành công dân hạng bét trong xã hội. Hàng triệu người không chịu nổi phải vượt biên, tìm cái sống trong cái chết, gần nửa triệu người đã lấy đại dương mênh mông là mồ chôn! Người sống thì bị 2 lần rửa tiền, tài sản chẳng còn gì. Người chết cũng không được yên, san bằng mồ mả ở các nghĩa trang quân đội của QLVNCH.
Sau gần nửa thế kỷ tiến lên Thiên Đàng XHCH, xã hội suy hóa vô đạo đức, nhân tâm ly tán, kinh tế băng hoại, mất đất dâng biển cho Tầu Cộng, lòng dân oán hận.
Tất cả chỉ vì cái nhìn thiển cận, cái tâm hẹp hòi, cố chấp và bất tri lý, của những kẻ chiến thắng, sống trong hào quang mù quáng, điên cuồng, con ếch, mà cứ tưởng mình là con bò!
Kính xin, những người còn nghĩ đến Quê Hương, Đất Nước, đọc bài viết sau đây, không mới, nhưng nói đến nhân cách cao quý, tâm cao thượng, của những nhân vật ở phe chiến thắng, lẫn chiến bại, trong cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ. Để từ đó, chúng ta có thể đối chiếu với tư cách thấp kém, nhỏ mọn của bọn cầm đầu của đảng CSVN, đưa đất nước, sau gần 50 năm, thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới! Nhìn ra nguyên nhân ngay! Tại ai?
Hình Ảnh Xúc Động Đầy Tình Người Kết Thúc Cuộc Chiến Nam & Bắc Mỹ!
(Theo William Zinsser)
-Tôi không phải là người say mê về cuộc nội chiến. Tôi không bao giờ có ý muốn thăm viếng những địa điểm chiến trường nổi danh ngày xưa và khơi dậy diễn tiến của những trận đánh nầy. Chuyện xảy ra có quá nhiều bi thảm, nó là chuyện buồn!
Thế mà có một địa danh trong lịch sử cuộc nội chiến luôn luôn ám ảnh tôi, đó không phải là một bãi chiến trường, mà chỉ là tên của một ngôi làng nhỏ, hai bên xung đột cùng nhau kết thúc cuộc chiến: có tên Appomattox!
Để viếng nơi đây, tôi lấy máy bay đến thành phố Richmond và lái xe về phía tây của miền nam tiểu bang Virginia. Tôi chọn lộ trình đi ngang dịa thế nơi tướng Lee (1) đã dàn quân miền Nam trong tuần lễ cuối cùng của trận chiến. Trong suốt 9 tháng trời, quân đoàn Bắc Virginia của tướng Lee, đã án binh gần Petersburg, phía nam thành phố Richmond. Vào ngày 2 tháng 4, cuộc chiến coi như kết thúc. Quân miền Bắc bao vây gần 1/5 quân của tướng Lee tại Saylef’s Creek và bắt giữ 7.000 tù binh! Được tin nầy, tướng Lee than: “Trời ơi! quân ta đã tan rã, đại bại rồi hay sao!”.
Thật vậy, phần lớn quân binh lính của ông đã tan hàng! Không còn sức chiến đấu, vì đói khát và kiệt sức. Một số đông binh lính đào ngũ, quân số của tướng Lee, lúc này chỉ còn lại 30.000 người!
Trong lúc vội vã lui binh về phía tây, tướng Lee nhận được một bức thơ tay của tướng Grant, kêu gọi ông đầu hàng!
Quân số quá ít so với địch quân và gần như bị bao vây khắp tứ bề, sự lựa chọn của tướng Lee rất giới hạn, khó mà lựa chọn.
Một viên sĩ quan đề nghị phân tán và đánh du kích, tướng Lee không đồng ý.
Ông giải thích tiếp tục đánh nhau, chỉ gây thêm đau khổ, chết chóc không cần thiết cho dân miền Nam.
Ông nói: “Không còn giải pháp nào khác hơn, không cần giữ danh dự nữa, là tôi phải đến gặp tướng Grant, nếu không, tội của tôi, đáng chết ngàn lần!”.
Ngày 9 tháng 4, tướng Lee ra lịnh viên sĩ quan tùy viên, đại tá Charles Marshall, đến một ngôi làng kế bên, Appomattox Court House, để tìm một địa điểm cho ông và tướng Grant gặp mặt.
Theo trí nhớ của tôi từ lúc còn đi học, tướng Grant (2) và tướng Lee họp trong một tòa án! Thật sự không phải như vậy.
Tôi được biết trong cuộc viếng thăm, ở miền nam tiểu bang Virginia vào thế kỷ thứ 19, những ngôi làng nào có đại biểu trong quận hạt đều có hai chữ “Court House” đi liền, theo tên của ngôi làng đó.
Thật ra, khi đại tá Marshall đi ngựa vào ngôi làng nầy, nhằm ngày Chúa nhựt lễ Phục sinh, tòa án đóng cửa. Ngôi làng vắng vẻ và không có hoạt động. Ở đây còn lại khoảng 100 người, phần lớn là người nô lệ, nhiều người da trắng, khi nghe quân đội đến, đã bỏ làng ra đi.
Một người ở lại, nhà buôn bán Wilmer Mc. Lean, được đại tá Marshall thương lượng, để dùng ngôi nhà của ông ta, làm địa điểm bàn thảo việc quy hàng!
Tướng Lee đến trước, tuy bên quy hàng, nhưng lại mặc lễ phục oai nghiêm, mang dây biểu chương và đeo kiếm!
Tướng Grant, bên chiến thắng, thì lại mặc đồ tác chiến thường ngày, quần và giày còn bám đất hành quân.
Sau khi bắt tay, hai người ngồi trong phòng khách của ông Mc. Lean và hàn huyên thân mật, về cuộc sống quân ngũ trong cuộc chiến tranh Mễ Tây Cơ (3). Sau cùng, tướng Lee mới đề cập đến “mục đích của buổi gặp gỡ của 2 chúng ta ngày hôm nay!”.
Tướng Grant bèn lấy cây viết chì, như không có chuẩn bị, viết vội vã những điều kiện đầu hàng và trao lại cho tướng Lee.
Sau khi xem qua những điều tướng Grant trao, tướng Lee nói: “Những điều kiện nầy, sẽ là môt tác động tốt, vui vẻ hòa bình và giữ danh dự cho quân sĩ của tôi!” Cám ơn ngài!
Điều kiện đầu hàng không đòi hỏi, bất cứ hành động nào nhắm vào sự trả thù… địch quân! Sau khi nộp vũ khí, họ được tự do về lại quê nhà!
Một mục khác, chứng tỏ lòng cao thượng bên thắng cuộc. Tướng Lee đề cập đến nhiều binh lính của ông dùng ngựa đi đánh trận, ông hỏi tướng Grant rằng, những quân lính nầy có thể giữ lại ngựa của họ, để lo cho cuộc sống mới được không?”
Tướng Grant vui vẻ chấp nhận và ông tràn đầy lòng thông cảm nói rằng, “hầu hết là những người nông dân và nếu họ không có ngựa, ông e rằng họ khó lòng trồng trọt để sống qua mùa đông!”
Tướng Lee trả lời: “Điều nầy sẽ góp phần quan trọng trong việc hòa giải dân tộc, là niềm vui cho đất nước của chúng ta!”.
Trước khi chia tay, ông cho tướng Grant còn cho biết rằng, ông sẽ trao trả tất cả những tù binh miền Bắc, vì ông không đủ lương thực cung cấp cho họ, và ngay cả thiếu lương thực cho binh lính của ông. Tướng Grant nói ông sẽ gởi sang cho binh lính của tướng Lee 25 ngàn phần lương thực khô! để họ dùng, khi trở về lại quê nhà!
Khi tin đầu hàng miền Nam tức tốc bay đến doanh trại, quân miền Bắc hò reo, bắn đại pháo để ăn mừng! Tướng Grant ra lịnh ngưng ngay lập tức!
Ông nói với các sĩ quan trong bộ tham mưu của ông: “Chiến tranh đã chấm dứt, quân mà ta coi là phản loạn, trước đây ta đòi bắn bỏ! bây giờ, tất cả là đồng bào thân yêu của chúng ta!”.
Tướng Grant cảm thấy không thể có cảm giác “vui mừng” trước sự quy hàng của…một kẻ thù! Nhưng là những người chiến binh, đã chiến đấu một cách anh dũng trong lý tưởng của họ, trong bao nhiêu năm qua.
Trong khi đó, khi được tin ân xá, quân đội miền Bắc không đợi lịnh, họ tự động đem sang trại quân miền Nam từng bao thịt bò, thịt “bacon” chia sẻ và những thức ăn khác mà quân đội miền Nam từ lâu thiếu thốn. Giây phút thật cảm động, không khí chiến trường mà không có phân biệt địch ta!
Ngày lịch sử: Vào ngày 12 tháng 4, bốn năm sau kể từ ngày tấn công Fort Sumter, gây ra cuộc nội chiến Nam & Bắc, quân đội của tướng Lee tiến vào ngôi làng để đầu hàng, trao nộp vũ khí. Chính tại nơi nầy, hành động hòa giải, thương yêu cuối cùng đã xảy ra và đó là tất cả ý nghĩa, biến thành địa điểm lịch sử, ngày mà nhiều người Mỹ gọi “God Bless America!” mãi mãi, tại Appomattox!
Một nhân vật đáng kính, ông Joshua L. Chamberlain, một tướng lãnh miền Bắc, được chỉ định tiếp nhận binh sĩ miền Nam quy hàng. Ông rời chức giáo sư tại trường đại học Bowdoin để nhập ngũ. Ông đã được thăng chức nhiều lần tại mặt trận về sự can đảm. Ông bị thương sáu lần, một lần trầm trọng cho đến nỗi bác sĩ quân y không cứu chữa, vì coi ông như đã chết!
Ngày hôm đó, trước hàng quân miền Bắc nghiêm chỉnh, tướng Chamberlain nhìn những binh sĩ miền Nam xơ xác, tả tơi từ trên đường đồi đi vào làng, dẫn đầu là tướng John B. Gordon.
Sau nầy, tướng Chamberlain viết lại: “Giây phút đó làm tôi thật sự xúc động,…muốn bật khóc! không còn phân biệt thù địch, tất cả là anh em! Tôi quyết định để đánh dấu giây phút “thổn thức” tràn đầy trong tim nầy. Trong quân đội, không có biểu hiện thừa nhận, tôn trọng hơn là cái chào tay!” và tôi đã ra lịnh cho cả đoàn quân miền Bắc thực hiện!
Chào tay một đoàn quân chiến bại? Tôi cũng biết rằng, sẽ có rất nhiều người chỉ trích thái độ của tôi sau nầy.
Tôi đã không xin phép để hành sử như vậy và thật sự tôi cũng không đòi hỏi được khoan dung về hành động nầy.
Đối diện với chúng tôi, trong tư thế bại trận nhưng can trường, anh dũng, họ là biểu tượng của tinh thần trượng phu, những con người không rã rời, không đau khổ, bất chấp tử vong và không có một sự tuyệt vọng nào có thể khuất phục họ được.
Bây giờ đây, họ trở thành những con người ốm yếu, tả tơi và đói khát, nhưng họ đứng sừng sững, can trường, mắt nhìn ngang vào chúng tôi, làm sống dậy những sự ràng buộc thiêng liêng cao cả tình hy sinh cho đất nước hơn hết. Những đấng nam nhi như vậy, sao lại đòi ruồng bỏ, không được hội nhập vào một Hợp Chủng Quốc! vượt qua thử thách này, nước Mỹ sẽ vững vàng!”.
Đáp lại lịnh của tướng Chamberlain, “tức thời tất cả hàng ngũ của quân miền Bắc, từ đơn vị nầy đến đơn vị khác, đều nghiêm chỉnh chào tay! Tướng dẫn đầu đoàn quân, ngồi trên lưng ngựa trông buồn bã, đầu cúi xuống! Bỗng nghe được tiếng động của sự cả đoàn quân cùng chào tay và nhận ra hàm ý của việc đối xử “huynh đệ” nầy! Ông chợt tỉnh, di chuyển một cách tuyệt diệu hiên ngang, căng dây cương, làm con tuấn mã ở một vị thế nhìn thẳng! Rồi ông theo quân cách chào lại, bằng cách hạ kiếm ngang mũi giày và ra lịnh cho các đơn vị theo sau thi hành lễ nghi đúng quân cách, khi đi ngang hàng quân Bắc Mỹ!
Quá tuyệt vời! Danh dự được đối xử bằng danh dự! Luận anh hùng, bất kể thắng thua!
Phía thắng trận, không còn tiếng kèn thắng trận, không một tiếng trống, không một tiếng reo hò, không một lời nói hay một tiếng sầm xì về một sự vinh quang… hư ảo! mà là một sự im lặng rợn người và nghẹt thở, dường như là một sự diễn hành thông cảm của những trái tim, qua những dòng nước mắt!”.
Từ sáng sớm đến chiều tối, những người lính miền Nam ở thế chào đi ngang những người miền Bắc cũng ở thế chào. Họ giao vũ khí, những lá cờ miền Nam tơi tả và trở về quê.
Gần 100.000 quân miền Nam đã quy hàng ở địa điểm lịch sử Appomattox! Vài ngày sau, tất cả đều rời nơi nầy.
“Sau diễn tiến của sự quy hàng, ngôi làng trở lại nhịp sống bình thường”
Ông Ron Wilson, sử gia của Appomattox Court House nói: Làng Appomattox hiện nay là một di tích lịch sử quốc gia, gồm ngôi nhà của ông Mc. Lean xây cất trở lại, tòa án và 20 căn nhà nhỏ hơn.
Ông Wilson và tôi ngồi dưới cổng nhà Clover Hill tân trang, nơi đây, tướng Grant đã đặt in 28.231 giấy chứng nhận phóng thích cho binh sĩ miền Nam. Chúng tôi nhìn qua khung cảnh trầm lặng mênh mông. Con đường từ đó quân sĩ miền Nam đi xuống ngôi làng xuyên qua một vùng ruộng lúa, có thể nhận ra rõ ràng trong một bức tranh vẽ hồi thế kỷ 19, cho đến nỗi tôi hình dung thấy họ đang di chuyển xuống con đường đó một lần nữa.
Hiện nay có khoảng 130.000 du khách đến viếng di tích nầy hàng năm. Ông Jon B. Montgomery, quản trị viên, nói: “Họ đến tìm nguồn cảm hứng yêu thương, trong tình đất nước! Câu chuyện chúng tôi kể cho họ nghe không phải là trận đánh cuối cùng, nhưng là sự hòa hợp của quốc gia và những điều kiện rộng rãi, nhân nhượng của sự quy hàng do tướng Grant đề nghị.
Tướng Grant không muốn đóng vai một vị anh hùng chiến thắng. Đề tài “khoan dung” và “hòa hợp” cứ vang mãi trong tai tôi trước sự trầm lặng, ấm áp của Appomattox!
Ông Wilson nói: “Tướng Grant và tướng Lee có một tầm nhìn rất xa, trái tim rộng lớn. Hai ông nhận thức rằng, những nỗ lực hai bên dùng vào cho cuộc chiến, đã gây ra bao nhiêu phân hóa đau thương trong bao nhiêu năm qua, cần phải được vận dụng để tái thiết quốc gia. Không cần phải có hận thù! tàn phá!”.
Có ba nhân vật sống mãnh liệt trong lòng tôi. Hai trong ba nhân vật đó, tướng Lee và tướng Grant còn ngời sáng với đức tánh trí dũng mà người Hoa Kỳ, còn ngưỡng mộ đến ngày hôm nay.
Một người tượng trưng cho sự quý phái và truyền thống trưởng giả của miền Nam cổ kính, và người kia là hình ảnh của một con người bình thường và tự lập của miền Bắc, miền Trung Tây và miền Tây Hoa Kỳ.
Người thứ ba không ai khác hơn là Tổng Thống Lincoln (4). Ở giai đoạn sau cùng, Appomattox chính là màn diễn xuất của ông. Tôi hầu như thấy ông đang đứng phía bên kia chiếc bàn trong nhà của ông Mc. Lean khi tướng Grant viết sơ qua về những điều kiện đầu hàng. Tôi cũng biết rằng ông Lincoln thường tuyên bố ông muốn cuộc chiến tranh chấm dứt trong sự khoan dung, đại lượng, nhưng tôi không biết ông và tướng Grant có thì giờ để thảo luận vấn đề nầy hay không.
Ông Ron Wilson nói rằng hai người đã gặp nhau hai tuần lễ trước đó, trên chiến hạm River Queen ở sông James, và hai ông đã thảo luận rất lâu về những diễn tiến chấm dứt cuộc chiến một cách nhanh chóng và những xáo trộn có thể xảy ra vào thời hậu chiến. Ông Wilson nói với tôi: “Ông cũng nên biết thêm ông Lincoln đã nói: “hãy để họ buông súng một cách thoải mái, không hận thù!”.
Ghi chú thêm:
(1) Robert E. Lee, tư lịnh quân đội miền Nam, được nhiều sử gia xem như một tướng lãnh tài giỏi nhứt trong cuộc nội chiến. Ông đã chận đứng được sự tiến quân của miền Bắc nhằm đe dọa thủ đô Richmond, Virginia của miền Nam. Sau đó, vì thiếu thốn phương tiện và quân số, ông phải đầu hàng tại Appomattox. Sau chiến tranh, ông là viện trưởng của trường đại học Washington và kêu gọi dân miền Nam đoàn kết góp phần xây dựng Hợp Chủng Quốc.
(2) Tướng Ulysses S. Grant sau đó đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ hai nhiệm kỳ (1869-1877).
(3) Chiến tranh Mễ Tây Cơ (1846-1848) xảy ra giữa Hoa Kỳ và Mễ Tây Cơ về sự tranh chấp biên giới phía Bắc và Đông của tiểu bang Texas vừa được sáp nhập vào Liên Bang năm 1845. Hoa Kỳ thắng cuộc chiến tranh nầy và Mễ Tây Cơ với Hòa Ước Guadalupe vào tháng 2/1848 chịu nhượng cho Hoa Kỳ phần còn lại của Texas, đồng thời Hoa Kỳ cũng kiểm soát luôn California, Nevada, New Mexico và Wyoming. Hoa Kỳ đồng ý bồi thường $ 18.250.000 chiến phí cho Mễ Tây Cơ (trị giá hiện nay khoảng $600.000). Sự sáp nhập những tiểu bang mới nầy vào liên bang cũng là trong những nguyên nhân đưa đến cuộc nội chiến vì các tiểu bang mới không được phép dùng nô lệ. Do đó, số tiểu bang không chấp thuận nô lệ đã tăng thêm và Thượng Viện mất quân bình bất lợi cho miến Nam.
(4) Tổng Thống Abraham Lincoln, chỉ hai ngày sau khi chấm dứt chiến tranh, vào ngày 14.04.1865 bị ám sát chết trong lúc ông đang tham dự một buổi trình diễn tại hí viện Ford ở Washington D.C. Người ám sát ông là diễn viên John Wickes Booth, một người có khuynh hướng ủng hộ miền Nam.
Ngược Lại: Hình Ảnh CS Việt Nam Trả Thù Cho Đến 47 Năm Sau Kết Thúc Cuộc Chiến! (Năm 2023, Là Năm 48!)
-Kỷ niệm cái ngày “triệu người vui, triệu người buồn” của người Việt, các TP lớn, sẽ lại bắn pháo hoa. Thường thì những ngày lễ lớn vào năm chẵn, nhà cầm quyền sẽ tổ chức trọng thể, “hoành tráng” hơn năm lẻ. Có pháo hoa, có duyệt binh, có ca nhạc hội… để dân chúng được dịp vui vẻ, tự hào và “quên đi cái dạ dày xẹp lép,” từ ngày tiến lên cái Thiên Đàng Xã Hội Chủ Nghĩa! Nhưng năm nay, mặc dù là năm lẻ, 47 năm kể từ ngày “thống nhất đất nước,” ông Nguyễn Văn Nên, vẫn muốn khuấy động Sài Gòn bằng những hoạt động hoạt náo, xua bớt cái âm khí nặng nề ám ảnh thành phố suốt hai năm ôn dịch hoành hành?
Nhân dịp ngày “triệu người vui, triệu người buồn,” người Việt nên chăng nhìn về đoạn đường 47 năm đã qua, với một đôi mắt mở to, khách quan và tôn trọng sự thực? Người Việt được gì, ngoài mất tất cả! Được hết là thân phận của những “chủ nhân đất nước”, mà khiêm nhường, xưng là “đầy tớ” ở xứ thiên đường xã hội chủ nghĩa hôm nay! Tương lai nào đang chờ đợi, mãi mãi không thấy…ánh sáng cuối đường hầm!
*47 năm qua đi như một cái chớp mắt của lịch sử, nhưng với đời người thì là chặng đường dài. Khoảng thời gian đó, đủ để một Hàn Quốc đói nghèo trở thành một cường quốc, một làng chài Singapore, trở thành trung tâm tài chính khu vực, quốc đảo giàu có nhất Châu Á.
*47 năm cũng là quãng thời gian đủ để 3 thế hệ sau chiến tranh đã sinh ra và lớn lên. Những thế hệ trẻ hôm nay được thừa hưởng gì từ một quốc gia đã thống nhất về mặt địa lý suốt từ Ải Nam Quan (cứ giả như vẫn còn) tới mũi Cà Mau với tài nguyên “rừng vàng biển bạc, đất đai phì nhiêu,” dưới chế độ luôn tự vỗ ngực cho rằng mô hình cai trị mang tên XHCN, là sự lựa chọn tất yếu của văn minh nhân loại, là chế độ ưu việt “do dân và vì dân” như Nguyễn Phú Trọng tuyên bố: “Đất nước ta, chưa bao giờ được như thế!”
*47 năm, ai là bên thắng cuộc, ai là bên thua cuộc?
Mấy hôm trước, đứa em họ của người viết gọi điện khoe rằng, sau 2 năm dịch bệnh chờ đợi, cuối cùng sắp tới đây, vui mừng vì sẽ được đi xuất khẩu lao động!… tận Hàn Quốc! Cậu này đã hoàn thành khóa học và thủ tục cần thiết để sang Hàn vào tháng Sáu và bắt đầu công việc nuôi trồng thủy sản ở bên đó với mức lương khoảng 40 triệu đồng/tháng. Nếu ăn tiêu tiết kiệm và trừ chi phí khác, thuế thu nhập cá nhân… vẫn hàng tháng gửi về nhà được phân nửa số tiền lương cho vợ con. Đó là một mức lương mơ ước, cao vời vợi, cho những công việc tay chân ở Việt Nam.
Câu chuyện của cậu em họ cũng giống như hơn 120.000 người Việt mỗi năm đi lao động ở xứ người, trong nhiều năm qua. Ước tính có khoảng trên 2 triệu người Việt Nam trong 16 năm (2005 – 2021), đã bỏ lại phía sau những làng quê nghèo khó, kiếm tìm sinh kế bằng những nghề tay chân, hầu hạ (ở đợ) nơi xứ người, theo con đường xuất khẩu lao động.
Nhưng số người ra đi bằng những thùng container lạnh, bằng con đường du lịch, thăm thân, kết hôn giả… thậm chí còn lớn hơn nhiều. Cứ được ra khỏi cái thiên đường khố nạn, chết cũng được! Sự kiện bi thảm 39 người Việt chết ngạt và đông cứng trong thùng container ở Essex, Anh Quốc tháng Mười, năm 2019, chỉ hé lộ một phần nhỏ mạng lưới buôn người khổng lồ do các tổ chức mafia VC Việt và cơ quan Ngoại Giao, Bộ Công An, Cục Xuất Nhập Cảnh, hãng Hàng Không Việt Nam… cấu kết và vươn vòi bạch tuộc từ các thập niên 80, 90 của thế kỷ trước.
Chỉ riêng vụ việc liên quan tới 39 tử thi người Việt trong thùng container lạnh ở Essex – Anh Quốc, Bỉ đã bắt giữ 11 người Việt có liên quan và công tố Bỉ cho biết, đường dây này mỗi ngày đưa hàng vài chục người Việt nhập cư trái phép vào Anh, Châu Âu trong nhiều tháng.
Bên cạnh nạn buôn người, một đội quân đông đảo hàng vạn cô gái Việt Nam, tung hoành “bán thân xác” khắp Đông Nam Á, sang cả trời Âu bằng visa du lịch để… bán dâm. Phần lớn những “nàng kiều” này đến từ những vùng quê nghèo ở đồng bằng sông nước Cửu Long.
Một nghịch lý đau đớn là vùng đất trù phú miền Nam Việt Nam, nơi có đầu tàu kinh tế Sài Gòn và vựa lúa gạo, cá tôm không những nuôi sống cả nước, mà còn chiếm tới 80% nông thủy sản xuất khẩu, nhưng mức sống người dân rất thấp. Các dịch vụ công ích như y tế, giáo dục, giao thông, xử lý rác thải, hạ tầng hết sức thiếu thốn, lạc hậu. Suốt hơn 4 thập kỷ, nhà cầm quyền Hà Nội thi hành chính sách “đào Nam, đắp Bắc” tàn khốc và không đầu tư tương xứng với tiềm lực cũng như đóng góp của vùng đất này vào ngân sách quốc gia. Nghèo đói, thất học, đã đẩy người dân vào bước đường cùng, sẵn sàng dấn thân vào những chốn nhơ nhớp, rủi ro nhất để sinh tồn.
Sự khó khăn, cơ cực của người dân đồng bằng sông Cửu Long, thậm chí được chính ông Nguyễn Phú Trọng xác nhận trong một bài phát biểu gần đây, trong cuộc họp bàn phương hướng phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long diễn ra hôm 22 tháng Tư. “Vùng đất mà sau nhiều năm ‘ngủ yên,’ đã được ‘đánh thức’ vào những năm 80 của thế kỷ trước, nhưng chỉ mới ‘thức dậy’ mà chưa vươn lên mạnh mẽ. Người dân nơi đây phần lớn chỉ mới đủ ăn mà chưa khá giả, mặt bằng y tế, giáo dục chưa theo kịp cả nước.” (theo báo Thanh Niên.)
*47 năm sau tháng Tư Đen, hàng triệu người Việt ở dưới vĩ tuyến 17 đã phải bỏ nước ra đi. Họ bị tước đoạt nhà cửa, bị tù đày, bị xua đuổi lên vùng “kinh tế mới” rừng thiêng nước độc, bị gạt ra rìa xã hội, bị tước bỏ khỏi các dịch vụ công ích như giáo dục, y tế và cơ hội việc làm, sinh kế. Những kẻ “bên thắng cuộc” đã nhanh chóng trở thành những kẻ cướp bóc, trả thù tàn độc người “bên thua cuộc.” Các chính sách đàn áp thâm hiểm, có hệ thống của Hà Nội trực tiếp và gián tiếp đẩy hàng triệu người ra Biển Đông, gây ra cuộc khủng hoảng nhân đạo khủng khiếp kéo dài gần 2 thập kỷ, kể từ 30 tháng Tư, 1975. Những người già ở Bãi Trước và Bãi Sau Vũng Tàu kể lại, sau ngày Gãy súng, có thời gian xác những người vượt biển dạt vào bờ nhiều tới mức mỗi sáng phải đem xe bò ra thu nhặt và chở đi chôn tập thể trong những rừng dương. Ước chừng khoảng trên nửa triệungười đã làm mồi cho cá qua những cơn bã tố, hoặc nạn nhân thê thảm của cướp biển Thái Lan.
*47 năm sau khi đất nước “thống nhất,” người Cộng Sản ngây ngất trên “đỉnh cao muôn trượng” với chiến thắng “chấn động địa cầu!” đế quốc nào cũng thắng! nhưng dòng người Việt vẫn tiếp tục tha phương, bỏ lại phía sau “thiên đường mù” tăm tối. Họ là đội quân chủ lực gửi về quê nhà nguồn ngoại tệ lớn gấp 4 lần tổng xuất siêu quốc gia (khoảng gần 20 tỷ Mỹ Kim) năm 2019. Nguồn ngoại tệ này có ý nghĩa sống còn với thể chế CSVN, nó được đánh đổi bởi mồ hôi, nước mắt, phẩm giá và cả những xác người chết cóng, trong thùng container lạnh của người Việt viễn xứ. Của nhưng thân xác nô lệ tình dục khắp nơi trên thế giới!
Những đồng tiền gửi về quê nghèo để xây lên những ngôi nhà to lớn, khang trang nhưng vắng bóng người ở, chơ vơ giữa những làng quê chỉ còn lại toàn người già và con nít. Những đứa bé lớn lên xa cha mẹ, đến tuổi niên thiếu nhanh chóng rơi vào nghiện hút, ma túy đá và các tệ nạn xã hội bủa vây khắp hang cùng ngõ hẻm ở nông thôn Việt Nam. Trong khi đó, nhà cầm quyền lấy hình ảnh các “làng tỷ phú, làng biệt thự” làm thành tựu phát triển kinh tế xã hội, là kết quả “lãnh đạo đúng đắn, đỉnh cao của đảng và nhà nước.”
Không chỉ người dân nghèo sẵn sàng đánh đổi mạng sống, cầm cắm nhà cửa, vay nợ lãi cao mong tìm đường sang xứ người mưu sinh. Người giàu Việt Nam cũng sẵn sàng chi hàng triệu Mỹ Kim, để có một tấm hộ chiếu ở các quốc gia Tư bản “giãy chết!”
Đặc biệt, đám quan chức Cộng Sản sau khi đã hạ cánh an toàn cùng khối tài sản khổng lồ đã trộm cắp, cướp bóc được nhờ “sự nghiệp cách mạng,” rất ưa thích sum họp cùng đám con cháu, hưởng thụ cuộc sống xa hoa ở Cali, Paris hay Dubai…
Cớ làm sao, một quốc gia tự hào về “cơ đồ, vị thế, tiềm lực chưa bao giờ được như hôm nay!” là đất nước đáng sống, có nền văn hóa “đậm đà bản sắc dân tộc, nhân ái, nhân văn,” v.v… mà từ người nghèo cho đến kẻ giàu sang đều muốn bỏ nước mà đi?
Cách đây không lâu, trên báo CAND, cơ quan ngôn luận của Bộ Công An, có một bài viết “30 tháng Tư nghĩ về những giấc mộng tan vỡ ở xứ người.” Trong bài viết có đoạn “Chiến tranh đã đi qua, vết thương đã ‘liền da’ khi quê hương hòa làm một, đất nước được vẹn tròn. Nhưng nỗi thù, sự ích kỷ và mưu lợi cá nhân vẫn còn tồn tại trong lòng những con người đó, họ chấp nhận đời tha hương mà không chịu thừa nhận thất bại, vẫn luyến tiếc cuộc sống dựa dẫm hưởng lợi từ ngoại bang, vẫn cay cú, vẫn cố tìm mọi cách thực hiện giấc mơ được ngoại bang giúp sức để trở về ‘phục quốc!’”
Hãy nhìn những gì “bên thắng cuộc” đã làm với bên thua cuộc? Có lẽ, một hình ảnh rõ ràng nhất minh chứng cho cái gọi là chính sách “hòa hợp dân tộc” của người Cộng Sản là nghĩa trang Biên Hòa, nơi yên nghỉ của hàng chục ngàn phần mộ của những người lính phía “bên thua cuộc.” Phần mộ của họ bị xâm hại, bị phá bỏ, bị đục tên, bị cấm thân nhân, đồng đội đến thăm viếng trong nhiều thập kỷ. Những người nằm dưới mộ phần đó là cha anh của cộng đồng người Việt lưu vong sau 1975. Trong khi giới chức Hà Nội kêu gọi “khúc ruột ngàn dặm” về Việt Nam đầu tư làm ăn và tích cực gửi càng nhiều “kiều hối” càng tốt để “xây dựng quê hương.” Tính cho đến 2017, cái “khúc ruột ngàn dặm” đó đã có giá 2000 tỷ Mỹ Kim tính từ thời điểm 1990 tới nay.
Thử hỏi nếu phía “bên thắng cuộc” thực tâm thi hành một chính sách hòa hợp, không cướp bóc nhà cửa, công xưởng, không bức hại tù đày hàng trăm ngàn cán binh VNCH sau ngày 30 tháng Tư khiến 160.000 người đã bỏ xác lại trong những trại tù khổ sai… không bức hại vợ con, thân quyến của họ… thì hàng triệu người dân miền Nam có phải liều mình vượt biển hay không?
Mới đây thôi, năm 2019, ngay sát những ngày Tết cổ truyền Mậu Tuất, nhà cầm quyền Cộng Sản thành Hồ đã đập phá tan tành hơn 200 căn nhà ở vườn rau Lộc Hưng, xua đuổi những thương phế binh VNCH ở tuổi gần đất xa trời, thân thể không còn lành lặn… biến họ trở thành vô gia cư, không nơi nương tựa! cho đến bây giờ 2023, vẫn lang thang sống dưới gầm cầu, vỉa hè!
Chính sách tàn độc, đàn áp, truy bức những người bị coi là “ngụy quân, ngụy quyền” chưa bao giờ thay đổi. Thậm chí, sự hận thù và chia rẽ, bôi nhọ thể chế VNCH được đưa vào sách giáo khoa, được phổ biến bằng thơ ca và được coi là “lịch sử.” Đó là “lịch sử” của riêng kẻ thắng cuộc? Câu chuyện mới đây, cô hoa hậu xứ Thanh Hóa đã biểu diễn bài “Cô gái vót chông giết giặc Mỹ cọp beo” ngay trên đất Mỹ, trong một cuộc thi nhan sắc. Đó là sản phẩm của thứ giáo dục tuyên truyền thù hận. Không thể có một lý giải nào khác. Gần đây một chiến dịch tẩy chay “Cô Ca Sĩ Tuổi Teen Có Gốc Việt Nam Cộng Hòa!” gần 50 mươi năm hận thù, đến cả đời con, đời cháu!
Những tưởng như sự tàn độc, sắt máu đó người CS chỉ dành cho những người “thuộc chế độ cũ.” Nhưng không, bất kể ai nếu chống đối lại quyền lợi của những kẻ cầm quyền thì đều là “kẻ thù của nhân dân.” Thậm chí, đó là một ông lão 84 tuổi, 50 tuổi đảng, như ông Lê Đình Kình – một cựu lãnh đạo đảng cấp xã kỳ cựu, tiêu biểu. Khi ông ta chống lại quân cướp đất. Ông ta cũng nhanh chóng trở thành “khủng bố” và bị những “đồng chí” của ông ta ập vào nhà riêng bắn chết. Con cháu 3 đời nhà ông ta bị tù đày, dày vò cho tới thân tàn ma dại. Những gì đã xảy ra ở Đồng Tâm, Hà Nội hay ở Lộc Hưng, thành Hồ đều giống nhau.
Có một nhà văn Nga từng nói “Chiến tranh rồi sẽ qua đi, cách mạng rồi sẽ thôi gào thét,” nhưng trên mảnh đất này, dường như chưa bao giờ “cách mạng” ngừng gào thét!… Những người Cộng Sản nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Tất cả tiếng nói phản biện, những đòi hỏi về Dân chủ, Tự do ngôn luận, Minh bạch, Nhân quyền, đều là “thế lực phản động!” phá rối trật tự, an ninh.
Tự do của những tù nhân lương tâm, dân oan, di cốt của những người lính Mỹ, lính Cộng Hoà, quyền lợi của người dân thậm chí, đã được hiến định như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, biểu tình… trở thành những món đồ để chính quyền CSVN ngã giá với các nước phương Tây trong các lộ trình hội nhập quốc tế để tìm kiếm lợi ích kinh tế. Công thổ, tài nguyên quốc gia là của riêng, để đám quan chức và giới tư bản Đỏ chia chác, bán rẻ cho ngoại quốc.
Hóa ra, không chỉ những người chế độ cũ là “bên thua cuộc,” mà tất cả chúng ta, Nhân Dân và Dân Tộc này, tất cả đều là “bên thua cuộc!”
Khốn nạn! Chỉ những kẻ hung bạo tàn độc, nắm trong tay súng đạn, dùi cui, sẵn sàng đánh chết người trong đồn công an, là “bên thắng cuộc” mà thôi.
(Theo Tân Phong)