LTS.- Nhà văn/nhà truyền thông Lê Việt Điểu tên thật là Lê Bình, sinh trưởng tại Long An, Miền Nam Việt Nam. Ngoài tài viết văn, làm báo, ông còn là một kịch sĩ tài hoa và một xướng ngôn viên nổi tiếng của Đài phát thanh, với giọng nói trầm ấm rất được các thính giả vùng Thung Lũng Hoa Vàng San Jose mến mộ. Ông hiện là Chủ Tịch Câu Lạc Bộ Báo Chí Việt Ngữ Miền Bắc California. Tác phẩm đã xuất bản: 3 tập truyện Biển Đêm, Dòng Sông Kỷ Niệm & Con Gái Nhà họ Bạch.
Chắc chắn một điều ai cũng hiểu, Quê Hương là nơi chôn nhau cắt rốn, và nơi đó có mồ mả tổ tiên, có làng mạc, có những di tích của tiền nhân. Người Việt Nam, từ lâu, vốn có tình yêu quê hương nồng nàn tha thiết. Yêu đến nỗi cho dù vùng đất ấy có nhiều tai ương và nghèo khổ, vẫn trung trinh như nhứt, không hề có ý định từ bỏ để du canh du cư đến một nơi trù phú hơn. Vâng, quê hương là thế đó. Và, đối với tôi – quê hương còn là núm ruột không thể chia lìa, là nơi chốn đi về trong những khi mỏi mệt, những lúc cần nghỉ ngơi, hoặc vòi vĩnh đòi quà. Quê hương rất đỗi thân thương đó; nhưng quê hương cũng mông lung mờ ảo không định hình được ngoài những chữ, những tên gọi… Ô, hay là… Quê hương là buồng cau, là bụi chuối, là giòng sông??? Và có thể là tất cả.
Nói đến tình yêu quê hương, bày tỏ tình cảm đối với quê hương, mỗi người có những cách thế khác nhau. Hoặc yêu quê hương qua sách vở, hoặc yêu quê hương bằng hành động, hoặc xả thân bảo vệ, hoặc sống chết với nơi chôn nhau cắt rốn v.v… Tình yêu không thể nào so sánh hoặc tính đếm. Nhưng, yêu quê hương bằng máu của chính mình, bằng cả cuộc sống của mình, bằng những công việc làm đẹp cho quê hương… thì có được mấy người?
Xin lỗi, tôi đã đi lạc đường chăng? Con đường làng quê thẳng băng từ nhà ra ruộng (mà) sao tôi đi đâu lang thang giữa chốn phố phường? Tôi đang đọc và đang có trên tay 2 tập thơ của Quốc Nam: “Quê Hương Nước Mắt & Người Tình Quê Hương”. Tôi lang thang lạc bước, vì thơ của thi sĩ Quốc Nam đã dẫn tôi đi. Tôi cảm nhận được sự gần gũi ông qua hai thi tập này. Và, tôi muốn gửi mấy dòng này đến ông.
Với Thi sĩ Quốc Nam trước đây, tôi chỉ là một cậu bé. Thưa, đúng như vậy. Ngày ông làm thơ và đã nổi danh ở quê nhà, thì tôi còn ở truồng tắm mưa. Ngày ông làm báo, viết văn mưu sinh thì tôi mới ở ngưỡng cửa Trung Học. Ngày Quốc Nam giã từ vũ khí để làm những công việc văn hóa xã hội, thì tôi là chú lính mới tò te trong quân trường. Ngày Quốc Nam làm “Chủ Tịch” (1) lãnh đạo hàng chục ngàn thương phế binh, thì tôi cũng mới vừa ôm súng vào cuộc chiến. Tôi luôn là kẻ đi sau ông. Nhưng bây giờ, Quốc Nam đối với tôi, không là chiến sĩ, chủ tịch, nhà báo hay nhà văn. Quốc Nam chính là Thi Sĩ của Quê Hương Việt Nam. Với cá nhân tôi, Quốc Nam và Quê Hương gần như là một, dù cho ở phương trời nào Quốc Nam cũng mang quê hương đi theo. Cuộc đời và tiến trình sáng tác văn thơ của Quốc Nam trong nhiều thập niên qua đã chứng tỏ rằng: ông đã yêu thương Quê Hương như người tình trăm năm gắn bó. Đó là điểm duy nhứt, tôi thấy, tôi cảm, và tôi thương yêu và gần gũi với thế giới thi ca của Quốc Nam.
Trong cuộc đời (nhiều khi) có những chuyện chúng ta phải nhận (dù không chứng minh được) là có số – có cái duyên tiền định – Và, cái duyên đó đã đưa tôi đến với Quốc Nam. Ngày ông làm việc ở Cơ Sở Văn Hóa Đông Phương tại San Jose, (cũng là năm tôi viết những bài báo nhỏ cho một số báo tại địa phương), nhưng tôi không quen ông (dù tôi rất muốn đến gặp ông để nhờ xuất bản sách)… Vào năm 1998, tôi quen biết nhà văn Trường Sơn Lê Xuân Nhị, một nhà văn gốc Không Quân VNCH, qua đó tôi quen nhà thơ Quốc Nam. Và tôi phải nhận ra một điều, Quốc Nam là một người làm văn hóa rất đúng nghĩa của chữ này.
Ông không câu nệ, gò bó, hình thức, nhưng rất cởi mở. Cánh cửa văn nghệ nơi ông luôn rộng mở… Nếu không như thế, chúng ta làm sao có được những nhà văn tên tuổi… chẳng hạn: Trường Sơn Lê Xuân Nhị, Vũ Thị Dạ Thảo, Nguyễn Ngọc Ngạn, Phượng Khánh, Ngọc Thủy??? Chiếc chiếu văn chương, cái bàn văn hóa… hay là gì gì đó, đã bị các ông áo thụng chiếm làm của riêng từ cái thuở Hùng Vương đi mở nước rồi kìa… Mầm non, mầm già văn nghệ, văn chương làm sao có chỗ để vào, chớ đừng nói đến chia một góc ghế. Tôi chưa phải là nhà văn, nhà thơ hoặc nhà… gì ráo trọi, nhưng tôi cũng biết căn nhà đó “thơm” như thế nào.
Tôi phải lòng vòng như thế, vì không dễ có được một người cầm bút có lòng như Quốc Nam trên văn đàn Việt Nam. Câu chuyện bước vào văn nghiệp may mắn gặp thi sĩ Quốc Nam của nhà văn Trường Sơn Lê Xuân Nhị kể tôi nghe, và những việc Quốc Nam từng làm, như Giải Quốc Tế Tượng Vàng Ca Sĩ VN (do Quốc Nam sáng lập từ năm 1987) đã cho tôi những ấn tượng tốt về nhà thơ. Và, ông cuốn hút tôi bởi những dòng chữ mang nặng lòng với quê hương – như một người tình. Và Quốc Nam (theo cái nhìn của tôi) – Quê Hương đã trở thành phần máu thịt của ông. Bất cứ Quốc Nam làm việc gì trong cuộc sống, quê hương Việt Nam vẫn mãi mãi theo ông như hơi thở.
Ngày vào Quân Đội Miền Nam, ông đã nhìn quê hương qua tuổi mộng mơ, thi tập “Tình Ca Lính Alpha Đỏ” (2) đã gây cho bao chàng trai phấn khởi đem giấc mộng sông hồ đặt trên đôi vai phục vụ Tổ Quốc. Và rồi… khi xa quê hương làm một lưu dân, Quốc Nam vẫn mang quê hương đi theo.
Ông có lần phân vân tự hỏi:
‘Bao giờ trở lại quê hương,
Em, anh trên mọi nẻo đường.
Tay đan xuôi Nam Định,
Vòng hoa ôm ấp linh hồn’.
(Tình Như Ca Dao)
Quốc Nam đã ra đi lần thứ hai, và lần này ông đi xa quá, thật xa… Và ông đã không quên “mang quê hương đi theo”:
‘Nắng lên giọt nắng hao gầy.
Ta tương tư thuở còn đầy môi em.
Xứ người quạnh quẽ từng đêm.
Nghe hơi em thở càng thêm đắng hồn.
Nụ cười đâu đó xanh trong.
Mắt em ta ngỡ quê hương hiện hình.
Giấc mơ cay đắng ân tình.’
(Mê Hoang)
hoặc:
‘Anh viết bài thơ tình đẹp nhất,
Gởi người tri kỷ, vọng quê hương.
Anh mơ mai mốt thành xuân thật,
Em sẽ “nàng dâu” đẹp giáo đường.
(Nàng Dâu Quê Hương)
Thơ tình ướt át mượt mà, và lãng mạn, có lẽ, thơ Đường. Thôi Hiệu về thăm cảnh cũ người xưa không gặp nàng, đã cám cảnh thở than:
‘Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong’
Riêng Quốc Nam, không những yêu em, nhớ em, mà lại còn hòa nhập làm một với em, với quê hương… không hai mà một thôi. Em-Quê Hương, Quê Hương-là-Em:
‘Và đó tình ta thành biển lớn,
Em là bóng dáng một-quê-hương.
Anh yêu Sông Hậu vang trùng sóng,
Vút giải ngân hà phủ xóm thôn’.
(Người Tình Hậu Giang)
Quốc Nam sinh ra nơi cánh đồng có dòng sông phù sa màu đỏ – Ông đã có dịp đến vùng sông nước Miền Tây quê tôi, dù cách nhau hàng ngàn cây số, ông vẫn thấy gần gũi vô cùng. Vì dù hai giòng sông nhưng cùng chung một chỗ khởi nguồn. Ông nhìn đồng nước Cửu Long và nhớ về đồng bằng Nam Định-Thái Bình. Hai nơi chốn cùng một nghĩa quê hương:
‘Em có quê hương bạt ngàn lúa chín,
Giòng Hậu Giang xuôi chảy đến bao giờ.
Em có hồn xanh ngát một màu thơ,
Tôi đứng đó mà yêu thương đã mở.
(Quê Hương Người Tình)
Yêu quá, cho nên, dù Quốc Nam đã ra đi, đã yên ấm nơi một khung trời nào đó, ông vẫn mang cảm giác của một kẻ không nhà. Ông dằn vặt chính mình. Ông làm khổ tâm can ông:
‘Bao năm qua ta âm thầm dấn bước.
Giữa đồng hoang của phấn đấu không tàn.
Kiếp lưu đày kéo rời rã tâm can.
Nuôi ước vọng một mai về phục quốc.
Hỡi anh kháng chiến trên đường đất nước.
Hôn giùm ta mảnh đất cũ sân trường.
Hàng dậu tre và bóng nắng ven sông.
Tiếng cá động chao lục bình xuôi ngược’.
Ngày xưa có Lý Bạch dù chưa ra khỏi đất nước, mà thi hào đã “Đê đầu tư cố hương”. Hoặc chuyện Bá Di-Thúc Tề lên núi Thú Dương không ăn cơm gạo nhà Chu, không ăn cả những cọng cỏ trên đất nhà Chu… để hai người cùng chết. Câu chuyện Bá Di-Thúc Tề là tấm gương ‘Trung Quân Ái Quốc’ của thời phong kiến… Còn bây giờ? Thời thập niên 40-50, có thi sĩ Giang Nam “Xưa yêu quê hương qua từng trang sách vở, nay yêu quê hương vì có một phần máu thịt của em tôi”. Với thi sĩ Quốc Nam, tôi cảm được nơi Quốc Nam tấm lòng nhớ về cố quốc, yêu quê hương. Nhưng, ông không yêu quê hương vì trong lòng đất có máu thịt của người mình yêu… Thi sĩ yêu quê hương bằng những sống động của một-quê-hương thấm đậm máu thịt của chính ông và đồng đội, và ông hóa-thân-làm-một với quê hương.
‘Tôi gọi tên em là yêu dấu
Nửa đời sương gió chợt bình yên.
Mắt, môi ngọt lịm trời quê cũ
Em với hồn tôi chắp cánh tiên’.
(Cho Người Yêu Dấu)
Người yêu dấu đó là ai? Còn hoặc mất, máu thịt có trong từng nắm đất của quê hương hay chăng? Có lẽ không cần thiết. Quốc Nam yêu, với tình yêu chất ngất không hề tính toán, và ở chốn quê người ông vẫn thấy bóng dáng của quê hương.
‘Yêu dấu hỡi! Tạ ơn em lần nữa,
Đã quê người còn bóng dáng quê hương.
Tâm hồn em. Buổi tối ấy rực hồng…
… Hình bóng em là cả một trời quê.
Non nước đó, máu xương là nhân chứng’.
(Tạ Ơn Yêu Dấu)
Và ông mơ ước:
‘Yêu dấu ạ, mơ cũng thành sự thật,
Anh sẽ cùng em về bến sông xưa.
Chùm hoa soan lấp lánh bóng hàng dừa,
Anh dìu em giữa hương thơm quê mẹ.’
(Bài Hờn Ghen Cỏ Hồng)
Trong lòng Quốc Nam có những dằn vặt, có những đớn đau khi ông rời quê hương dấn thân vào lưu lạc. Ông ra đi trong nỗi nhớ chập chờn, như người mộng du, và sau lưng ông “quê hương nước mắt” vẫn hằn đậm trong ông. Nơi đó thi sĩ đã đổ máu để mong ước một ngày… Nhưng bây giờ… dù cho ông đang sống nơi đất nước tự do, có đầy đủ vật chất. Nhưng lòng ông thì:
‘Anh gửi về em ngàn dòng huyết lệ,
Quê hương ngục tù. Đêm mãi thở than.
Anh ra đi. Trái khô nứt võ vàng.
Em tôi vẫn trong nỗi đau chất ngất.
Rồi em nhắm mắt xa đời chật vật,
Đói khát dăm ngày chỉ một bữa no’.
(Thương Về Em Gái Việt Nam)
Và Quốc Nam vẫn nuôi ước mơ, vẫn một lòng như ngày nào ông còn mang “Alpha Đỏ” của Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Đà-Lạt trên cầu vai:
‘Dáng xưa nghiêng chếch ba miền,
Màu “Alpha Đỏ” trường thiên anh hùng.
Hẹn em dưới ánh Cờ Vàng,
Ta về dựng lại thiên đàng cao nguyên’.
(Gọi Em Lâm Viên)
Thi sĩ thương yêu quê hương vô cùng, nên mọi hình ảnh ông nhìn thấy đều mang bóng dáng của quê hương:
‘Nàng tiên nhỏ của bố
Chuyện xưa Lạc Long Quân.
Mẹ Âu Cơ đã mở
Linh hồn bố cho con.
Anh con là giống rồng.
Vẫy vùng trời hải ngoại.
Hãy cùng trở về nguồn,
Quê hương ta dựng lại’.
(Nàng Tiên Nhỏ)
Quốc Nam đi nhiều và ông cũng quen biết nhiều. Nơi đâu thi sĩ đến, cũng đều để lại những dấu chân kỷ niệm, chẳng những cho bạn bè mà cho cả mọi người. Ông dừng chân tại thung lũng Silicon (Bắc California), và đã để lại cho mọi người cái tên thật thơ mộng là “Thung Lũng Hoa Vàng”. Chính nơi địa danh này, ông đã nâng chén hẹn hò:
‘Cùng hẹn trở về một buổi mai,
Quê nhà xa tít bóng hình ai.
Có em trải lụa trên bờ dậu,
Có nắng trên vai thả giấc dài.
Ly này ta tặng bạn hiền đây,
Xuân đã chừng như thấp thoáng đầy.
Sóng mắt giai nhân mờ ảo giác,
Đường về cố xứ nối vòng tay.
(Cuối năm Thung Lũng Hoa Vàng)
Với Quốc Nam, hình như, không nơi chốn nào ngoài quê hương ông tìm thấy được sự bình yên tâm hồn. Ông luôn luôn thao thức, kiếm tìm, mơ ước và cố thực hiện cho bằng được giấc mơ. Ông đã có cuộc sống tương đối ổn định – nếu không muốn nói là sung sướng. Thế mà ông như người “homeless”… là kẻ không nhà:
‘Nếu ai hỏi tôi, nơi nào địa chỉ?
Đã qua nửa vòng trái đất đau thương.
Tôi còn chi trong mắt đời bão nổi.
Suốt kiếp lưu vong không chốn về nguồn.
(Địa Chỉ Tôi)
Là một người Việt Nam luôn mang niềm thao thức và đau đớn về quê hương dân tộc trong lòng, cho nên dù đang ở trên đất nước Hoa Kỳ với nhiều tiện nghi, Quốc Nam vẫn luôn nghĩ mình là kẻ không nhà. Tuy nhiên, ông không mất niềm tin. Ông biết chắc một điều, với quả tim nóng đỏ rực lửa thương yêu, sẽ có một ngày…
‘Rồi một ngày… tôi, em về bến đậu.
Trên luống rau gốc lúa của quê hương.
Địa chỉ tôi là mái lá bình thường.
Em thấy đó giấc mơ tôi nhỏ, bé’.
Vâng, thi sĩ Quốc Nam, giấc mơ của ông sẽ có ngày trở thành hiện thực – nếu chúng ta – Ông và Tôi – cùng thắp chung ngọn lửa. Ông và tôi cùng có một ước nguyện như nhau. Sách vở có nói “Khi yêu nhau hai người cùng nhìn về một hướng…” Nhưng đó là tình yêu trai gái, vợ chồng. Thế chúng ta yêu quê hương có cần nhìn về một hướng không, thưa nhà thơ? Chắc chắc câu trả lời là “Có” phải không ông? Bởi vì chúng ta:
‘Nhớ quá lắm những chiều quê nắng đổ,
Anh cùng em đi bắt bướm thả diều.
Gió reo mừng qua thôn xóm tịch liêu.
Bến sông cũ, anh em mình tắm mát’.
(Thương Về Em Gái VN)
Tôi sinh trưởng ở miền Nam, ông ra đời trên đất Bắc. Tôi và ông cùng một giống Tiên Rồng. Và, hôm nay tôi sống trong “Thung Lũng Hoa Vàng”, còn ông trên “Cao Nguyên Tình Xanh”. Tôi đọc thơ Quốc Nam, nhìn thấy một trời quê hương tôi trong mắt ông, trong trái tim ông. Tôi viết mấy dòng cảm nghĩ chân thật nhất gởi ông, thi sĩ Quốc Nam, tình-quân của quê-hương ngàn năm yêu dấu.
LÊ VIỆT ĐIỂU
(Nhà văn, kịch sĩ, tác giả)
Chú thích:
(1) Thi sĩ Quốc Nam đã gia nhập QLVNCH năm 1965. Ông bị quân VC bắn trọng thương 2 lần suýt vong mạng. Năm 1971, ông “bị” giải ngũ khỏi Quân Đội. Giữa năm đó, các đại biểu Thương Phế Binh thuộc 12 Tỉnh Thị Hội Phế Binh trong lãnh thổ Miền Đông đã bầu cử ông vào chức vụ Chủ Tịch Khu Hội Phế Binh Quân Khu III VNCH, hồi đó tổng số PB Hội Viên trực thuộc Khu Hội hơn 20 ngàn.
(2) Thi sĩ Quôc Nam là cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia VN (Dalat). Ông là Tác Giả Võ Bị duy nhất đã ấn hành 2 quyển sách viết riêng cho Quân trường danh tiếng này và tâm tình người SVSQ Võ Bị từ ngày nhập trường, vào cuộc chiến, cho tới những tháng ngày lưu vong nơi hải ngoại. Quyển sách thứ 13 tức thi tập “Tình Ca Lính Alpha Đỏ” của ông xuất bản tại Saigon năm 1968, từng được Chương Trình thi ca Mây Tần (đặc trách bởi thi sĩ/soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà) của Đài phát thanh Sài-Gòn và Chương trình thơ nhạc giao duyên (đặc trách bởi thi nhạc sĩ Thục Vũ) của Đài phát thanh Quân Đội giới thiệu nhiều bài thơ của Quốc Nam trên làn sóng điện trước năm 1975. Năm 2012, quyển sách thứ 21 của Thi sĩ Quốc Nam đã được xuất bản: Bản Thánh Ca Alpha Đỏ.
Thi sĩ Quốc Nam là văn nghệ sĩ Việt Nam đầu tiên được vinh danh trước cộng đồng 2 lần trong cùng một năm 2009 tại Hoa Kỳ:
1) Vinh danh “30 năm Thung Lũng Hoa Vàng” ngày 16 tháng 5 năm 2009, tại thành phố San Jose, California.

2) Vinh danh “50 năm thi ca Quốc Nam” ngày 31 tháng 10 năm 2009, tại thành phố Houston, Texas.

Nhà văn Lê Việt Điểu: Thi sĩ Quốc-Nam là Tác Giả đặt
mỹ-danh ‘Thung Lũng Hoa Vàng’ từ năm 1979.
LTS.- Nhà văn, nhà báo Lê Việt Điểu tên thật là Lê Bình, sinh trưởng tại Miền Nam Việt Nam. Ngoài tài viết văn/làm báo, ông còn là một kịch sĩ tài hoa và một xướng ngôn viên với giọng nói trầm ấm rất được các thính giả vùng Thung Lũng Hoa Vàng (San Jose) mến mộ. Lê Việt Điểu là Tác Giả tập truyện ngắn “Biển Đêm”, cùng một số tác phẩm đã hoàn tất và sẽ xuất bản trong năm tới, gồm: Dòng Sông Kỷ Niệm, Cánh Đồng Nước Nổi, Vương Vấn Đó Đây. Ông hiện cộng tác với nhiều tờ báo & websites tại hải ngoại. Nhà văn LVĐ cũng là Chủ Tịch Câu Lạc Bộ Báo Chí Việt Ngữ Bắc California.
Nhiều du khách người Việt khi đến thăm thân nhân, du lịch hoặc công tác tại California rất ngạc nhiên, và đã hỏi ‘Tại sao thành phố này có cái tên Thung Lũng Hoa Vàng?’ ‘Thành phố kia là Quận Cam?’ v.v… và v.v… Những câu hỏi như thế này có rất nhiều câu trả lời khác nhau, tùy theo sự diễn dịch của người được hỏi. Đối với tên Thung Lũng Hoa Vàng có người trả lời ‘Đây là thung lũng điện tử, mà điện tử là vàng’. Hoặc có người ngắn gọn cụ thể hơn ‘Thung lũng có nhiều hoa vàng’ hoặc ‘thung lũng hái ra vàng’… Đại loại nó là như thế.
Nếu bạn đến miền Nam Cali viếng thăm thành phố Santa Ana, Anaheim, Midway City v.v… quý vị đã đến thăm Saigon Nhỏ (Little Saigon) và tất cả những thành phố đó nằm trong hạt Orange County, và chúng ta gọi (nôm na) là Quận Cam. Những sự đặt tên, phiên dịch, phiên âm trên đây là một đặc điểm của sự dung hóa ngoại ngữ của người Việt, và ta thường Việt hóa hoặc dịch nghĩa của một số tên gọi, từ ngữ du nhập từ nước ngoài vào để dễ xử dụng trong ngôn ngữ Việt. Ví dụ: Washington đọc là Hoa Thịnh Đốn, New York đọc là Nữu Ước, Holywood là Hồ Ly Vọng, San Francisco được trở thành Cựu Kim Sơn… hoặc Mountain View City là Ngoạn Sơn Thành… Nhìn chung, đó là sự dịch nghĩa, tá âm để đọc ra Việt ngữ.
Người Mỹ có một thói quen hay tập quán (!) rất dễ thương, đó là họ luôn luôn cho những tiểu bang của họ một tên gọi riêng (Nickname) bên cạnh những tên chính thức. Ví dụ: California là Golden State, Arizona là Grand Canyon, Idaho là Potato Country, New Jersey là Garden State v.v… 50 tiểu bang của Hoa Kỳ đều có 50 nickname. Ngoài ra, bên cạnh nickname, các tiểu bang chọn một loài hoa và một sinh vật làm biểu tượng cho tiểu bang. Golden State chọn Bear và Poppy Flower làm biểu tượng. Con thú và loài hoa được chọn làm biểu tượng trở thành tài sản của tiểu bang California, và được luật pháp bảo vệ. Ở Cali nếu bạn hái hoa Poppy Flower có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù (mặc dù hoa Poppy mọc hoang nơi rừng sâu hoặc ở ven đường). Những chọn lựa được kể ở trên có thể là biểu tượng những nét đặc thù, hay thắng cảnh của vùng đất mà khi nghe qua người nghe có thể hình dung ra nét đặc trưng của vùng đất đó.
Trở lại Thung Lũng Hoa Vàng, có thể xem đây như một nickname của cộng đồng người Việt vùng này. Chúng ta có thể nghe thân thiết và gần gũi hơn khi ta cùng rủ nhau đi thăm Little Saigon, Quận Cam, Thung Lũng Hoa Vàng, Cao Nguyên Tình Xanh, Kim Môn Kiều, Cựu Kim Sơn [thay vì đi Orange County, Washington State, Golden Gate Bridge]. Những tên gọi bằng tiếng Việt còn cho biết tâm tình của người Việt đặt vào vùng đất họ đang tạm dung:Quận Cam – thủ đô tị nạn (Orange County), thủ phủ tình thương (Silicon Valley) v.v…
Không những có một tên, Thung Lũng Hoa Vàng còn có nick name ‘Thung Lũng Tình Thương’ (do đồng bào Việt Nam chúng ta tại Bắc Cali luôn luôn dẫn đầu quyên góp cho những chương trình cứu giúp đồng bào ruột thịt). Theo nhà thơ Quốc Nam và một số chủ báo kỳ cựu ở Bắc Cali, San Jose là thành phố đầu tiên quyên góp được 100,000 Mỹ kim cho chiến dịch ‘Tình Thương Dưới Ánh Mắt Trời – cứu người vượt biển Đông’.
Tên ‘khai sinh’ của thung lũng nêu trên là Santa Clara Valley hoặc Silicon Valley (cái nôi của ngành điện tử thế giới) nằm bên giòng sông Guadalupe River và con suối Coyote Creek. Thành phố lớn của thung lũng là San Jose được tìm thấy năm 1777, do ông José Joaquin Moraga, đã có thời gian là thủ đô của tiểu bang (1846) nơi đặt cơ quan lập pháp đầu tiên của tiểu bang (1949). Bây giờ, tại đây có hàng trăm, hàng ngàn hãng điện tử lớn nhỏ chuyên nghiên cứu và sản xuất các máy móc điện tử, computer, net work. Các hãng lớn có tiếng trên thế giới như H.P., Cisco, Sun… đều đặt văn phòng trung ương tại đây. Tuy nhiên, việc này không phải là nguyên nhân của nick name dễ thương Thung Lũng Hoa Vàng. Theo một số người am hiểu các sinh hoạt cộng đồng tại miền Bắc California, thì Thung Lũng Hoa Vàng là danh xưng mà thi sĩ Quốc Nam đã đặt cho vùng này. Trong đôi lần hội thoại trên làn sóng điện của vài chương trình phát thanh Việt ngữ tại San Jose, nhà thơ cho biết năm 1979 ông đã từ Seattle đến thăm viếng Silicon Valley. Từ trên dốc cao đổ xuống lòng chảo của vùng thung lũng, ông Quốc Nam nhìn thấy cả một sườn đồi phủ màu hoa vàng rực rỡ. Do đó, ông gọi tên San Jose là Thung Lũng Hoa Vàng, và tức cảnh sinh tình làm thơ để ca tụng vẻ đẹp lãng mạn của vùng thung lũng Silicon. Từ đó, Thung Lũng Hoa Vàng trở thành tên gọi quen thuộc trên một số tờ báo, tạp chí, đài phát thanh Việt ngữ, và trong cộng đồng nhân gian tị nạn khắp thế giới tự do.
Đến đây, ta hãy nghe tâm sự của thi sĩ Quốc Nam qua bài thơ ‘Mùa Xuân trên Thung Lũng Hoa Vàng’ phổ biến rộng rãi nơi báo chí Bắc Cali đầu năm 1984, sau đây:
‘‘Xuôi Nam mơ nắng trên tà áo,
Ta lại một lần bỏ bến cao (1)
Từ buổi mưa bay mờ dáng nhỏ,
Thông reo ta ngỡ xứ hoa đào (2)
– Hoa đào sẽ nở quanh đèo dốc,
Phố núi chừng như cũng ngậm ngùi.
Xa tạm khung trời vương ‘bích ngọc’ (3)
Tình thơ ta vẫn giữ cho người…
– Về đây gặp lại dăm bằng hữu,
Có những tình thân tưởng biệt ngàn.
Bạn mới trao nhau ly rượu mở,
Đất lành chim đậu rất thênh thang.
– San Jo-sé, nói lời thương mến,
Ta viết bài thơ tặng bạn hiền.
Mùa lạnh xuôi về nam nắng ấm,
Tìm nhau thung lũng dấu chân em.
– Chào em đôi mắt long lanh sáng,
Tình vẫn đông phương đẹp ngút trời.
Ta đếm nụ xuân trên sóng tóc,
Xanh màu kỷ niệm chút duyên thôi.
– Giao thừa ta đốt trầm hương ngát,
Xin những bàn tay xích lại cùng.
Thung Lũng Hoa Vàng (4) xuân mới nở,
Cùng nhau dựng lại một quê hương.
– Quê hương vẫn khổ đau trăm nỗi,
Bảy chục triệu người đói lạnh căm.
Ta gọi em về trong ngóng đợi,
Việt Nam mùa tới đẹp tình xuân (?)
– Xuôi nam mơ nắng trên tà áo,
Ta thấy Ca Li đã rộn ràng.
Một góc trời Nam giăng nẻo phố,
Về đây thắt chặt dãi đồng tâm.
[Tết Giáp Tý 1984]
Chú thích.- (1) Từ dạo lưu vong ở Mỹ, tác giả Quốc Nam đã di chuyển qua nhiều bến tạm: từ Missouri – Kansas – Washington, nay đến Bắc California.
(2) Đà Lạt được gọi là xứ hoa anh đào.
(3) Ý nói tới nơi cư ngụ của Tác Giả ở miền cực Bắc Hoa Kỳ: đô thị ngọc bích Seattle thuộc tiểu bang màu xanh Washington (The Evergreen State).
(4) Tên do Tác giả đặt cho quận hạt Santa Clara từ 1979’’.
Và tiếp theo đó là bài thơ ‘Thung Lũng Hoa Vàng’ do Quốc Nam sáng tác năm 1988, và đã được nhạc sĩ Trung Nhật phổ nhạc, nguyên văn như sau:
‘‘Em đã về chốn này,
Chim rồi mỏi cánh bay.
Màu hoa vàng rực rỡ,
Trên thung lũng tình đầy.
– Anh chờ mong một lần,
Được dừng bước phiêu linh.
Nhìn tóc em ấm nắng,
Đôi môi run ngại ngần.
– Em yêu mở cõi lòng,
Giữa ‘thủ phủ tình thương’
Bằng mấy mùa chiến dịch
‘Cứu Người Vượt Biển Đông.
– Hãy tụ về đây nhanh,
Có trái tim Việt Nam
Đắp xây tình Việt tộc
Trên Thung Lũng Hoa Vàng.
– Này cỏ lạ hoa thơm,
Với trăm ngàn đồng hương.
Cùng yêu thương chia xẻ.
Thăng hoa đời lưu vong.
– Anh chờ đợi từ lâu,
Nụ hôn trao lần đầu.
Là em, anh tìm đến,
Trọn vẹn tình cho nhau.
(Quốc Nam)’’

Bìa quyển tiểu thuyết “Thung Lũng Hoa Vàng” viết bởi nhà văn nữ Thương Hoài Thương. Đông-Phương Foundation xuất bản năm 1994.
Trên thực tế, tại Thung Lũng Hoa Vàng có rất nhiều hoa cải dại màu vàng nghệ mọc hoang trên các sườn đồi, trong các vườn cây ăn trái. Loại cây này có bông vàng li ti như bông cây cải ngọt của Việt Nam (cây cải này không ăn được). Dạo đó năm 1975, đất và người San Jose chưa phát triển sầm uất như bây giờ. Và cộng đồng người Việt tị nạn có mặt nơi đây từ năm 1975, tập trung đông nhất ở khu vực downtown của thành phố, và khu vực này chưa phát triển, còn nghèo nàn và giá nhà còn rất rẻ. Phải ghi nhận là thành phố San Jose đẹp đẽ tân kỳ sạch sẽ như bây giờ, có một phần lớn sự đóng góp của đồng bào tị nạn Việt Nam. Dần dà, đất lành chim đậu, các nơi ‘hú’ nhau về đây sinh cơ lập nghiệp. Đất hẹp người đông, cộng đồng ta quây quần trên các con đường gần chợ búa, trường học, hoặc nơi thị tứ. Santa Clara Street là con đường thương mại đầu tiên của người Việt.
Sau khi ổn định đời sống thì nỗi nhớ quê hương, nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn nổi lên ray rứt. Họ nhớ về những thảm cảnh mà thân bằng quyến thuộc còn mắc kẹt nơi quê nhà. Thế là các phong trào đấu tranh hình thành. Thung Lũng Hoa Vàng trở thành thủ đô của các cuộc họp mặt chính trị, các cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ, và một lần nữa Silicon Valley có nick name là ‘Thủ Đô Chính Trị’. Mặc dù trong đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù, tổ chức các cuộc xuống đường rầm rộ, nhưng cộng đồng Việt Nam nơi đây vẫn có lối sống hiền hòa, thích thơ văn, yêu hội họa, âm nhạc. Trung bình một tháng có một hoặc hai tập thơ, và thi sĩ ra mắt bà con trăm họ, để rồi một lần nữa ‘Thủ Đô Văn Hóa’ được mọi người truyền tụng.
Mặc dù được nhiều tên gọi thân thương như thế, dân số Việt Nam tại vùng này vẫn đứng hàng thứ hai sau Little Saigon – Quận Cam. Về bản tánh, dân Việt Thung Lũng Hoa Vàng chăm chỉ làm ăn, ít khi la cà trà đình tửu quán, ít tội phạm hình sự, chăm chỉ học hành, thành đạt khá nhanh. Người Việt có mặt gần như hầu hết tại các cơ quan công quyền, tư sở, hãng xưởng, và nắm giữ các chức vụ khá quan trọng. Ngoài ra, các tiểu thương gia, buôn bán nhỏ cũng nổi đình đám. Bên cạnh đó, nhiều công việc có lương cao không đòi hỏi điều kiện chuyên môn lại dễ kiếm tiền bạc vào ra rủng rỉnh, cho nên dấy lên phong trào thi đua mua nhà, tham dự trò chơi nhà giàu [stock]. Nó được bàn tán ì xèo mọi góc bếp, mọi bữa tiệc họp mặt.
Kinh tế nước Mỹ tăng vọt kéo theo Thung Lũng Hoa Vàng ngày một phát triển. Các ngọn đồi bao quanh thung lũng lần lượt được ủi rộng, san bằng mặt, để xây dựng nhà cửa. Giá nhà mua tăng lên như gió nổi phong ba, kéo theo giá nhà thuê cũng vùn vụt tiếp bước. Các chu kỳ ‘hưng trụ thoái diệt’ không bỏ sót thung lũng nhiều hoa vàng. Những ngày tháng sau Tết Tân Tỵ vừa qua, một số hãng xưởng đã dời đô, công việc bị đình trệ, giá stock trụt giảm, nhà cửa cũng bị xuống giá theo. Với những biến động như thế, người bản xử treo bảng bán nhà đi tìm việc khác, tại một nơi chốn khác. Người Việt ta vốn giòng dõi sớm định canh định cư, không thích lối sống du mục du canh du cư, cho nên đã và đang gồng mình cương quyết ở lại xây dựng đời sống tại nơi này.
Thung Lũng Hoa Vàng có nhiều khu thương mại, tuy không tập trung như vùng Quận Cam, nhưng không kém phần sầm uất. Những năm cuối thập niên 70 đầu thập niên 80, cộng đồng sinh hoạt chung quanh trục Santa Clara St và những con đường từ số 3rd đến số 12th. Hàng quán, chợ búa, tiệm ăn, vũ trường, tiệm tạp hóa mọc lên hai bên con đường huyết mạch này và những khu vực phụ cận. Về sau này vì nhu cầu, đường Senter Road trở nên vùng quần cư thương mại thứ 2 với một quần thể (hình cái gáo múc nước-chòm sao Bắc Đẩu) tọa lạc trên Senter Road gần Capital Express Way, có hàng trăm tiệm, quán, văn phòng, nhà sách, y tế, dịch vụ mở ra. Làng Việt Nam là tên gọi của khu thương mại trù phú này.
Khách phương xa có thể đến đây ngồi nhâm nhi một ly cà phê trong một quán cóc dọc theo hè phố, và nhìn người qua lại mua bán. Rối biết đâu, trong đó có một vài người quen mà ta không gặp từ ngày qua Mỹ(?) Ừ! Biết đâu đấy nhỉ. Có người đã kể lại rằng họ đến đây và đã bất ngờ gặp lại bạn cũ. Vâng, đúng như thế. Khu Làng Việt Nam tuy nhỏ, nhưng không thiếu bất cứ một thứ gì cần thiết. Nhu cầu đời sống có thể có đủ nơi đây: Cho một em nhỏ đồ chơi, một học sinh mới định cư cần cuốn tự điển, một cô gái thích ăn hàng, ăn vặt, ăn chơi, một bà nội trợ cần tiêu hành ớt tỏi, cần vòng vàng cà rá hột xoàn, một ông chủ gia đình cần sách báo, mời bạn đi ăn, một cụ già cần phim bộ giải trí trong những lúc rảng rang… Nói cho chí tình thì Làng Việt Nam trên đường Senter không có đủ từ cây kim sợi chỉ lên đến tủ kiếng tủ thờ, nhưng chắc chắn ghé qua nơi đây du khách không đến nỗi thất vọng.
Thương mại Việt Nam không chỉ dừng ở đó. Một khu thương xá khác đã nổi rộ hơn khu Làng Việt Nam, thành hình một thời gian không lâu sau đó: Khu Lion Plaza. Khu thương mại này rộng rãi, thoải mái, với nhiều hàng quán văn phòng, khu vui chơi giải trí. Lion Plaza tập trung hầu hết các dịch vụ vui chơi người Việt. Du khách đến đây có thể làm một ván cờ tướng với bạn bè, nhâm nhi một ly cà phê nghe nhạc, trong khi gia đình đi một vòng thăm dân cho biết sự tình và mua sắm. Khu thương mại này có điểm đặc biệt: một vườn cây bông trái bày bán ngoài trời, trăm hoa khoe sắc như ngày Tết. Vào các dịp lễ trọng đại như Tết Nguyên Đán, chợ hoa kiểng bày bán trước Tết hơn nửa tháng, pháo nổ đì đùng, hương thơm dậy đất.
Mặc dù kinh tế có khi lên khi xuống, nhưng cuộc sống người Việt vẫn ổn định nhờ sự tiết kiệm và biết ‘tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn’. Đời sống vật chất như thế, còn đời sống tinh thần thế nào? Nếu không kể một số người quay lưng lại với giống nòi, với bản sắc dân tộc thì đại đa số người Việt tại Thung Lũng Hoa Vàng vẫn giữ gìn truyền thống con Rồng cháu Tiên. Hàng năm vẫn tổ chức các sinh hoạt văn hóa như lễ Hai Bà Trưng, giỗ Tổ Hùng Vương, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Đán v.v… Có hàng chục ngôi chùa, và đền, miếu lớn nhỏ. Có hàng chục tờ báo, dăm ba đài phát thanh, mươi tiệm bán sách v.v…
Những sinh hoạt này nhằm bảo tồn và phát triển tinh hoa văn hóa Việt trong cộng đồng hầu giúp cho thế hệ đi sau biết đâu là nguồn gốc, và bên cạnh còn đóng góp vào nền văn hóa đa dạng tại xứ sở Hoa Kỳ. Tất cả những sinh hoạt văn hóa này phần lớn nhờ vào sự giúp đỡ của các vị có lòng với tổ tiên đất nước. Mặc dù các sinh hoạt văn hóa chưa được hoàn thiện, nhưng phải nhìn ra được đó là viên đá đầu tiên để xây dựng và bảo vệ nguồn gốc của tổ tiên, nêu cao tinh thần hội nhập mà không đồng hóa. Ngoài ra, các sinh hoạt này còn là một sự khẳng định tánh truyền thống nguyên thủy Việt Nam, một sự bảo vệ cần thiết chống sự xâm nhập của nền văn hóa Việt lai căng do Cộng Sản Việt Nam dàn dựng đang lăm le xâm nhập cộng đồng.
Thung Lũng Hoa Vàng một cộng đồng di dân Việt hình thành và tự khẳng định mình đã và đang từng bước vững vàng. Quốc gia Hoa Kỳ là một tập hợp của nền đa văn hóa, các sắc dân đến đây đều có quyền và được khuyến khích để bảo tồn văn hóa xứ sở mình. Dân Việt Nam thật không hổ danh Con Rồng Cháu Tiên đã tiếp nối truyền thống của cha ông: cần cù, thông minh, sáng tạo, hòa hợp đã thích nghi với môi trường mới. Cộng đồng Việt Nam hòa với môi trường nhưng không hóa (đánh mất) bản sắc mình, đó là đặc điểm nổi bật nhất trong mấy chục năm xây dựng đời sống vật chất, tinh thần của hậu duệ Quốc Tổ Hùng Vương.
Dù theo cha xuống biển hay lên theo mẹ lên núi, Việt-tộc vẫn mãi mãi là một nhà, một nôi và một nguồn gốc bất khả phân ly, không một thế lực nào dù tàn bạo đến đâu đi chăng nữa vẫn phải chùn bước.
LÊ VIỆT ĐIỂU (San Jose, California)