Nhà phê bình văn học Ngô Tường Dũng: Quốc Nam,
12 Năm, Làm Thơ Chốn Quê Người.
Khi phê bình tác giả và tác phẩm ‘Quê Hương Nước Mắt’ của nhà thơ nhà báo Quốc Nam, Uyển Ngữ một cây viết rất sáng giá vùng Thung Lũng Hoa Vàng có viết: “Thơ là tinh chất của nghệ thuật. Thơ là hoàng hậu của bảy bộ môn văn nghệ. Thơ khai thông ngõ bí cho văn học, triết sử, chính trị, và kể cả tôn giáo. Làm thơ là phổ khúc hát nội tâm. Quốc-Nam đích thực là một nhà thơ”.
Thực vậy, khi đọc một tập thơ, việc đầu tiên là người ta tìm thấy rung động tâm hồn, tìm thấy dằn vặt thổn thức, tìm thấy tiếng thở dài hay than khóc, cũng có thể là một tâm trạng khắc khoải lo âu, cũng có thể là hy vọng của một người chưa làm được gì cho mình và cho đồng loại; nhưng trên hết và trước hết, đọc một tập thơ, chúng ta tìm được chính chúng ta, chính Con Người trong những giòng thơ, như một tần số thích hợp với tần số của tinh thần ta, thẳm cùng của linh hồn ta.
Ở Việt Nam, người làm thơ rất nhiều, nhưng theo thiển ý thì chỉ có thợ thơ là nhiều, còn thi sĩ đích thực họa hiếm. Nói như thế không phải là một lối nói lộng ngôn hay quá khích. Bởi thơ không phải chỉ là sắp xếp những từ theo đúng luật bằng trắc, đúng âm vận để đọc lên như một thứ nghe vẻ nghe ve… của những bài vè dạy đời, nhưng dù có sai âm vận, bài thơ đích thực sẽ làm cho người đọc cảm thấy một cái gì đó huyền nhiệm không diễn tả nổi, và nói lên như Kim Trọng trong Truyện Kiều: ‘Rằng hay thì thật là hay, nghe như ngậm đắng nuốt cay thế nào’.
‘Quê Hương Nước Mắt’ phải được coi là một tâm sự bằng thơ của tác giả. Dù trong đó cũng có những đoạn văn xuôi, nhưng ai cấm cản những đoạn văn đó cũng có tính chất thơ, và cũng làm cho người đọc rung động đến tận đáy linh hồn. Không biết chúng tôi có chủ quan hay không, nhưng thực sự Quốc Nam đã nói lên những gì cần phải nói thay cho chúng ta, những người đã sinh ra lầm thế kỷ, lạc loài dăm bảy đứa, lang thang nơi xứ người, mất quê hương, mất tất cả, mang tâm trạng vong thân, ước mộng không thành. Và cũng mang một chút mặc cảm của một kẻ hèn nhát, đào ngũ trốn chạy, trong khi anh em, đồng bào ta còn chiến đấu kiên cường nơi một chiến khu nào đó, hay cả trong ngục tù, nơi ngục A Tì mới của thế kỷ hai mươi. Họ vẫn không đầu hàng Cộng Sản, không đánh mất sự kiên cường của một người Việt Nam qua dòng lịch sử bất khuất. Hãy nghe Quốc Nam nói thay cho ta tâm trạng đó:
Ta lưu đày một đời giãy chết,
Nắng phiền buồn theo nước mắt tuôn rơi.
Đêm quê hương lời kinh đã rã rời,
Ta trở giấc giữa Hoa Kỳ chói sáng.
Hai hình ảnh một nội tâm tương phản,
Ta ra đi bỏ nước bỏ bình minh.
Sống ở đây ôm tủi hận một mình,
Thù đóng cặn trong hồn ta tượng đá.
(Hãy Trở Lại Quê Hương Làm Lịch Sử, trang 16)
Như nhiều người Việt Nam ở chốn này, thi sĩ đã có những chiều nhớ quê hương, nhớ con đường đất đỏ, nhớ bến đò xưa, lũy tre làng miền Bắc, tiếng chuông chùa hay nhà thờ mỗi buổi chiều:
Nhớ Việt Nam từng dốc đá nhịp cầu,
Quê nghèo đã nuôi ta thành bất khuất.
Từ Nam Định xuôi miền Nam trù mật,
Bước chân ta qua những cánh đồng vàng
Nuôi triệu dân rừng lúa chín trổ bông…
Dừng chân Tha La một độ qua đường,
Ta luyến nhớ vùng khô cằn Hậu Nghĩa.
Quên sao được hình ảnh quê hương dấu yêu đã từng ghi lại trong tâm hồn bao kỷ niệm của một người Việt Nam:
Quên sao được quê hương ta 30 năm tan vỡ,
Ba mươi năm ngập lụt bom nổ đạn bay.
Máu của ta đã đổ xuống đất khô gầy,
Khi quân Cộng tràn vào Bình Long với xe tăng đại pháo…
Giờ Sài Gòn đổi ra Hồ Chí Minh thành phố,
Ta ngậm ngùi quay gót bỏ quê hương.
Giá Tự Do đắt gấp triệu bạc vàng,
Ta mất hết những mẩu đời yêu dấu.
Làm sao ta quen được những địa danh xa lạ
Của Hoa Kỳ hay của Missouri…
(Trời Xuân Cũ, trang 24 & 25)
Xa quê hương là bỏ tất cả ruộng vườn nhà cửa, mái nhà thân yêu, cha mẹ, họ hàng, thánh đường… Bỏ lại tất cả, dĩ nhiên cả người tình, dù là người tình một đêm hay người tình vạn kiếp:
Ta xa em giờ đong nỗi muộn phiền,
Cơn nước lũ xoáy hồn ta chết ngất…
Ta nhớ em đến vô cùng tận,
Giọt máu ân tình đã đọng lại trong em.
Ta yêu em trên đồng lúa bình nguyên…
(Cho Người Tình Ở Lại, trang 19 & 20)
Nhưng đau đớn thay, người tình ở lại với giọt máu rơi đã gởi một điện tín qua cho biết:
Con đã chết và quê hương giẫy chết!
Lúc đó thi sĩ không biết làm gì hơn là khóc, khóc cho quê hương mà cũng khóc cho chính mình. Phải chăng vì những lý do này, mà Quốc Nam đã đặt tên cho tập thơ của mình là ‘Quê Hương Nước Mắt’?
Nhan nhản trong các bài thơ là hình ảnh quê hương Việt Nam đẹp đẽ, nhưng đó chỉ là những kỷ niệm, còn bây giờ là đầy đọa, là tù đày:
Còn gì mà mong nhau
Quê hương đầy bất hạnh
Lửa cháy trĩu ngang đầu
Qua ngày dài giá lạnh
Em trào lệ run đau.
(Dòng Sông Thánh Địa, trang 30 QHNM)
Những người Việt Nam lớn tuổi sang tới đây không ít thì nhiều, đều mắc một chứng bệnh tinh thần, khủng hoảng, mê hoang, hay ít ra cũng là mặc cảm. Khi xưa phong gấm rũ là, sao giờ tàn tạ như hoa giữa đường. Họ mang mặc cảm của một con hổ nhớ rừng. Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu, khi tướng tá đi rửa chén, quét nhà, mệnh phụ đi may mướn, thủ tướng, nghị sĩ đi làm quảng cáo bảo hiểm, hay còn tệ hơn là làm nghề gác dan. Ngay các linh mục, tu sĩ, nhiều người sang đây cũng mang cái cảnh thất nghiệp lang thang, còn hơn anh chàng Do Thái thời Trung Cổ. Trách gì Quốc Nam đã viết:
Nắng lên giọt nắng hao gầy
Ta tương tư thuở còn đầy môi em.
Xứ người quạnh quẽ từng đêm
Nghe hơi em thở càng thêm đắng hồn.
Nụ cười đâu đó xanh trong
Mắt em ta ngỡ quê hương hiện hình.
Giấc mơ cay mắt ân tình…
(Mê Hoang, trang 32)
Cảnh bên Mỹ có đẹp, có hùng vĩ, và thi sĩ đã hơn một lần chào đón hân hoan, tuy nhiên trong cái cảnh huy hoàng nơi xứ lạ đó, người tha hương vẫn thấy mình lạc lõng và cô đơn như đang ở giữa sa mạc. Những building ở khu dowtown khác gì những nấm mồ khổng lồ không có sự sống?
Chào Seattle đỉnh trời cao ngất
Tôi về đây vọng hướng Thái Bình Dương.
Bờ bên kia triệu con mắt lửa hồng
Nhìn nước Mỹ buồn hay vui, nào biết?
(Chào Seattle, trang 34)
Cái điệu dằn vặt nhất mà nhà thơ muốn nói lên, chính là tâm trạng đào ngũ. Dù bạn không một lần cầm súng, dù bạn không hề tham gia vào cuộc chiến cách này hay cách khác, nhưng đứng trước nỗi đau khổ cùng cực của những người anh em đồng bào còn ở lại, ai mà không mang mặc cảm xót xa, mặc cảm đào ngũ hèn nhát. Hãy lấy thí dụ một linh mục vì hoàn cảnh phải bỏ lại đoàn chiên bơ vơ, trong lúc Cộng Sản không có những linh mục mới, khi mà những con chiên cần đời sống tâm linh hơn bao giờ hết. Hãy lấy thí dụ một người chồng bỏ lại gia đình vợ con, đang tranh sống trong một thế giới mà củ khoai quý hơn vàng, quý hơn cả độc lập tự do nữa. Hãy lấy thí dụ một người quân nhân bỏ đi, trong lúc bạn bè bị tù đày tra tấn dã man, hay nhịn đói nhịn khát nơi chiến khu tăm tối. Tất cả đều như Quốc Nam, đều là những kẻ đào ngũ của quê hương khổ đau. Cái dằn vặt này chảy dài trong tác phẩm và cô đọng trong bài thơ ‘Kẻ Đào Ngũ Của Quê Hương Khổ Đau’:
– Tôi nhục nhã trong tôi,
Kẻ bỏ nước ra đi,
Bỏ anh em ở lại,
Bỏ đồng đội gian nguy.
– Tôi thành kẻ đào ngũ,
Một thân phận quá hèn
Đâu bóng vang ngày cũ,
Tay súng chiều lênh đênh…
– Ngày xưa tôi can trường,
Sao bây giời yếu đuối.
Tôi xúc động dễ dàng,
Nước mắt tuôn thành suối,
Khi nghe chuyện quê hương,
Triệu hồn linh tức tưởi.
Người tha hương mang tâm trạng của một người luôn sống cho giấc mộng quá khứ vàng son, nhưng nay đã tan tành:
Thoáng năm năm về trước,
Anh, chiến sĩ can trường,
Tay súng đời ngang dọc,
Quyết bảo vệ quê hương,
Ngăn giặc thù tiến bước.
Những tiếng nói nghẹn ngào đó không phải đưa đến bi quan cùng cực. Cũng như khuynh hướng nổi bật của thơ văn hải ngoại trong thời gian gần đây, khuynh hướng thơ của Quốc Nam là một thứ ‘văn dĩ tải đạo’ của Khổng Tử, đem tâm tình viết lịch sử, đem ngòi bút chống cường quyền trong một loại thơ tranh đấu, một thứ nghệ thuật vị nhân sinh, một thứ văn chương dấn thân. Có thể nói chúng ta đã thua Việt Cộng một trận chiến, chưa phải là thua cuộc chiến. Bỏ súng rồi, nhưng chưa mất quê hương, vì chúng ta còn chiến đấu bằng ngòi viết, bằng tâm tình thống hận, và một lời kêu gọi hãy sống xứng đáng là người Việt Nam, đừng để vật chất xa hoa lôi kéo mất cái hận vong quốc, như Câu Tiễn ngày xưa phải bảo Phạm Lãi nhắc cho mình hằng ngày về mối thù nước thù nhà, thì Quốc Nam ở đây cũng nhắc cho chúng ta về nghĩa vụ đối với quê hương đất nước:
…Hồn vấn khăn tang đất nước tan,
Nhà của tôi trong khu phố nghèo nàn.
Tôi làm việc bằng ngày đêm mòn mỏi.
Bao năm qua với ưu tư chờ đợi,
Tôi giục lòng về giải phóng quê hương.
Máu anh em đã nhuộm thắm Cờ Vàng,
Thề quét sạch bọn Cộng-nô tàn ác.
Và nhà thơ nói tiếp:
Giữ lửa cho nhau, em, nhé em,
Để ta yêu mãi dáng ngoan hiền.
Hỡi người tình trẻ yêu kiều lắm,
Tiếng hát em vang dậy khắp miền.
Đồng thời nhà thơ trải dài tâm sự:
Bao năm qua ta âm thầm dấn bước
Giữa đồng hoang của phấn đấu không tàn.
Kiếp lưu đày kéo rời rã tâm can
Nuôi ước vọng một mai về phục quốc.
Hỡi anh kháng chiến trên đường đất nước
Hôn giùm ta mảnh đất cũ sân trường
Hàng giậu tre và bóng nắng ven sông
Tiếng cá động chao lục bình xuôi ngược.
(Đưa Mẹ Về Quê Hương, trang 53 & 54)
Quốc Nam đã vạch chương trình cho người trẻ làm. Sống tiết kiệm và dù có vui chơi thì cũng phải luôn nhắc mình là người vong quốc, và nuôi ước vọng ngày trở về quang phục đất nước.
Giọng thơ Quốc Nam man mác tình yêu, nhưng là một thứ tình yêu cao thượng, của những mối tình có lý tưởng, và không bao giờ quên mất quê hương trong ‘sóng mắt quê hương’. Như Lý Bạch ‘Sàng tiên minh nguyệt quan, Nghi thị địa thượng sương. Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương’, thì Quốc Nam luôn nhắc nhở cho người tình bé nhỏ của mình một quê hương đang chờ đợi đứa con yêu trở về.
Quê hương có thể là người tình quá khứ của những bài hát đêm Noel thuở xưa:
Anh nhớ mãi đêm Noel ký ức,
Trời Sài-Gòn em thần tượng lòng anh.
Bóng tối công viên cho mắt em xanh,
Tóc đã rối cho tình mình vội vã.
Rồi hôm sau anh trở về chiến địa,
Tiếng đạn quân thù réo gọi đêm đông.
Lời Thánh ca xoáy sâu tận đáy hồn,
Anh nhớ em hát ‘Đêm Đông’ ngọt dịu.
(Em, Đêm Đông Ký ức, trang 72)
Hay quê hương cũng là người tình hôm nay nơi đất khách quê người trong ‘Cuối năm ngồi nhớ người phương đó’:
Em xa Cali trời khuya buốt lạnh,
Bỏ lại mình ta giữa những bơ vơ.
Ta yêu em rồi dáng dấp của thơ,
Tình lớn mãi cho đời mình mở rộng.
Chỗ khác, Quốc Nam đã ‘gọi em quê hương đắm chìm’ như một lời hứa hẹn trở về:
– Hỡi mối tình phương đông,
Em đem trời quê hương,
Vào cơn giông bão cát,
Ta sợ đời lưu vong.
– Ta gọi em mùa xuân
Trên biên giới Việt Nam
Một đàn chim cất tiếng
Thương ta đời chiến-quân.
Qua những bài thơ bàng bạc tâm tình quê hương, nỗi thống hận của người xa xứ, thúc giục những kẻ tha hương hãy có một lý tưởng và nhìn lại tổ quốc thân yêu, Quốc Nam đã gởi cho ta một trời tâm sự.
Thơ là huyền nhiệm, là gặp gỡ đấng siêu hình, là một thứ tôn giáo của tâm linh và ngôn ngữ. Nhưng thơ trước hết là cung đàn mang cùng tần số với người đọc. Không biết Quốc-Nam có phải là Bá-Nha không, nhưng chúng ta tự nhiên trở thành Tử-Kỳ khi đọc thơ ông. Vấn đề của ông cũng chính là những vấn đề của ta. Ông rất người và cũng rất ta. Những kỷ niệm thân quen, những dằn vặt nội tâm, tất cả đã làm cho thi sĩ trở nên gần gũi với người đọc. Ấy là chưa nói đến tâm tình tôn giáo bát ngát trong thơ ông. Ông không than thở với Thượng Đế bằng lời, nhưng bằng những tâm tình hy vọng, bằng những lạc quan cho tương lai:
Mười năm sau anh lưu vong xứ lạ
Vẫn có em chia xẻ những vui buồn
Trời Cali thoảng chút lạnh mùa đông
Noel đến, Chúa giáng trần cứu thế!
Quỳ xuống đây hỡi người tình nhỏ bé,
Mình nguyện cầu cho bè bạn anh em
Giờ khổ nhục trong quỷ đỏ gông cùm
Xin Thượng Đế cho tựu thành ‘dân chủ’.
(Em, Đêm Đông Ký ức, trang 72)
Những bài thơ hay nhất là những bài thơ không được viết ra, có một thi sĩ đã nói thế. Đọc thơ Quốc Nam, chúng ta bỗng cảm thấy lạc quan hơn, được an ủi hơn, vì ít ra còn có những người trong chúng ta biết hối hận, biết nhìn đến đại cuộc và tương lai, trong khi đa số người tha hương hình như đã quên mất quê hương, vì mải lo kiếm tiền và hạnh phúc. Đó chính là bài thơ không viết ra của Quốc Nam, cũng chính là tâm tình Quốc Nam muốn gởi cho chúng ta, những người Việt Nam hải ngoại, hãy làm một cái gì cho quê hương có ngày quang phục.
Xin cám ơn Quốc Nam đã cho người đọc đôi phút dừng lại. Xin cám ơn Quốc Nam đã cho người đọc hình ảnh đẹp của San Jose, không phải của hận thù tranh đấu chống cưỡng. San Jose của người tình nhỏ bé muôn vàn mến thương đã một lần lìa xa, một San Jose rất Việt Nam, và một Quốc Nam, nhà thơ đấu tranh kiên cường.
Ngô Tường Dũng
(1987)