… Đọc xong hai tập thơ “Người Tình Quê Hương” và “Quê Hương Nước Mắt” của Quốc-Nam, những giòng thơ tâm tình tự trái tim của người thi sĩ đã được mệnh danh là “Chiến Sĩ Văn Hóa” vẫn còn để lại trong tôi nhiều cảm xúc.
Nữ văn thi sĩ Thu Nga: Quốc-Nam,
thi nhân sáng tác Thơ Quê Hương.
LTS.- Thu Nga sinh trưởng tại cố đô Huế. Tác Giả của một số tập truyện đã xuất bản ở hải ngoại như: Vùng kỷ niệm, Ngậm ngùi hương xưa, Bên bờ hạnh phúc; và Truyện kịch dài “Mây Theo Gió Về” (hay là ‘Đời sống trên đất Mỹ). Ngoài ta, chị còn in chung nhiều tác phẩm với các tác giả khác, gồm: Nhưng giọt sương rớt muộn, tuyển tập mùa xuân, tuyển tập truyện ngắn v.v…
Tác giả Thu Nga viết đủ thể loại: thơ, văn, ký sự, phóng sự, kịch, truyện v.v… Và có bài viết đăng trên nhiều tờ báo khắp Hoa Kỳ & Canada.
Hiện nay nhà văn / nhà thơ Thu Nga là Giám Đốc Đài phát thanh Radio Saigon Dallas AM-1600, cùng đài truyền hình SBTN tại Bắc Texas; cũng là Phó Chủ Tịch ngoại vụ Trung Tâm Văn Bút VN miền Nam Hoa Kỳ. Sau đây là bài viết về Tác Phẩm Tác Giả Quốc Nam của nữ văn thi sĩ Thu Nga:
Nếu “văn là người” thì thơ là tiếng nói của con tim. Con tim thổn thức sẽ chuyền đến tâm trí để thi nhân có thể nhả ra những âm điệu trầm bổng du dương. Thơ mà không phát xuất tự con tim chân chính, thì lời thơ sẽ gượng ép, ý thơ nhạt nhẽo. Khi đọc thơ của một thi sĩ có một lãnh vực đọc một hai bài là có thể đo lường giá trị tâm tư của người viết. Mỗi một thi sĩ có một lãnh vực riêng – cũng như nhạc sĩ, mỗi người đều có những “air” nhạc của riêng mình. Có thi sĩ nổi tiếng với những áng thơ tình như Đinh Hùng, thơ đấu tranh của Nguyễn Chí Thiện, thơ như vần điệu ca dao của Nguyễn Bính, thơ ngông cuồng của Bùi Giáng, thơ tình học trò của Nhất Tuấn, thơ mẹ của Trần Trung Đạo v.v … Trong bài này, chúng tôi muốn viết về một người viết thơ quê hương thật nồng nàn, tha thiết như những giọt nước mắt đang rơi: Thi sĩ Quốc-Nam!
Văn thi sĩ THU-NGA (Giám Đốc 2 Đài phát thanh VRN & Saigon Dallas 890-AM, cùng Chương Trình Truyền Hình Hàng Ngày SBTN tại Dallas-Fort Worth TX) phát biểu trong Ngày Ra Mắt Tác Phẩm Kịch Dài “Mây Theo Gió Về” của Chị dầy 600 trang, trước cử tọa ngót 1500 quan khách và khán giả, năm 2005 tại thành phố Dallas, miền Bắc tiểu bang Texas. Đây được ghi nhận là buổi Ra Mắt Sách Việt Ngữ thành công nhất tại hải ngọai từ trước đến nay.
Đúng như vậy, sau khi đọc 2 tập thơ của Quốc Nam, chúng tôi có thể cảm nhận được tâm tình thương quê, nhớ nước, tình đồng bào ruột thịt, tình đồng đội huynh đệ chi binh, tình lính nồng nàn, tha thiết … bàng bạc khắp các trang giấy; ngay cả khi anh nói chuyện với cha, với mẹ, với người tình, ngay cả khi anh nói chuyện với rừng thông xanh, với mây ngàn, núi gió.
Trường Mẹ, Võ Bị Quốc Gia Việt Nam đã hun đúc cho anh: Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm. Người ta có thể rời xa Tổ Quốc, nhưng tổ quốc không một phút nào rời bỏ tim óc anh. Anh vắt máu từ tim dâng về tổ quốc:
“… Đời thi nhân vấn tang trắng cúi đấu,
Vắt máu tim thành thơ dâng Tổ Quốc”
(Đưa mẹ về quê hương)
Từ lúc loạn ly, lưu lạc xứ người, vành tang trắng cho quê hương không bao giờ rời khỏi đời anh:
“Tôi để tang quê bao năm tủi hận,
Tôi để tang đời nhục nhã lưu vong.
Tôi để tang tôi nửa đời nắng hạn,
Với lòng son quyết nương bóng Cờ Vàng…”
(Vành khăn tang cho quê hương)
Với niềm hãnh diện là người con yêu của ngôi trường Mẹ danh tiếng lẫy lừng nhất Đông Nam Á, khóa 22 Võ Bị, anh ngậm ngùi vì Tránh Nhiệm đã không hoàn thành, nên lũ quỷ đã nhuộm đỏ khắp non sông.
“Ta có quê hương vẫn đầy lũ quỷ,
Mẹ ta ngậm ngùi chín suối phương xa.
Ta nhớ vô cùng màu đỏ “Alpha”
Nuôi chí ta thành Trường Sơn lửa dậy…”
(Bài trăn trối của một người lính Alpha Đỏ)
“Trách nhiệm” với Tổ Quốc không tròn, trách nhiệm với cha mẹ già không vẹn:
… “Ngày quê hương lọt vào tay Cộng Sản,
Mẹ cha theo tàu bỏ nước ra đi.
Đến Washington non nước quê người,
Vẫn từng đêm, tiếng thở dài vang vọng…”
(Vĩnh biệt mẹ cha)
Trách nhiệm với con thơ cũng trở thành niềm mơ ước:
“Viết cho con lời trần tình thống khổ,
Tháng tư chào đời con biết gì không?
Bố xuôi tay buông súng bỏ quê hương,
Ngàn nỗi hận dồn trái tim rướm máu.
…
Con lớn lên chia ước mơ cùng bố,
Một ngày nào quét sạch lũ Cộng Nô.
Việt Nam ơi! Thương biết đến bao giờ,
Bố con ta về dựng người cứu nước…”
(Cho con quê hương sẽ lớn)
“Trách nhiệm” với người tình cũng chỉ là gió thoảng mây bay:
“… Hãy yêu nhau và giữ mãi lời thề
Non nước đó, máu xương là nhân chứng…”
(Tạ ơn yêu dấu)
… “Thôi em nước mắt thành giòng,
Sông tôi vẫn hẹn một xuân thanh bình”
(Hẹn ngày mai)
Nỗi hận lòng “trách nhiệm” đã không tròn trong lúc “Tổ Quốc” ngả nghiêng, nên “Danh Dự” của một người trai cũng vì vậy mà cũng bị thương tổn. Anh ngậm ngùi, anh thao thức, anh hối hận xem lẫn những uất ức, nghẹn ngào.
“… Tôi nhục nhã trong tôi,
Kẻ bỏ nước ra đi,
Bỏ anh em ở lại,
Bỏ đồng đội gian nguy.
Tôi thành kẻ đào ngũ,
Một thân phận quá hèn.
Đâu bóng vang ngày cũ,
Tay súng chiều lên đênh …”
(Kẻ đào ngũ của quê hương khổ đau)
… “Đất nước bên kia bờ Thái Bình Dương
Tôi đã sống những ngày đong tủi nhục…”
(Chào Seattle)
Vì bàn cờ chính trị quốc tế đến hồi phải kết thúc và cũng vì vận nước tối đen, người trai Võ Bị không hoàn thành được nhiệm vụ, trách nhiệm đối với Tổ Quốc, nên những ray rức, buồn phiền này đã được Quốc Nam dàn trải ra trong 2 tuyển tập của mình.
Anh nhớ lại từ giây phút bỏ lại sau lưng trường cũ, làng phố xưa, theo tiếng gọi non sông, lên đường nhập ngũ, hy sinh cả quảng đời thơ mộng, dâng hiến đời trai cho quê hương. Suốt những năm tháng dài bên đồng đội, quyết một lòng bảo vệ sơn hà. Cho đến ngày 30 tháng tư 1975, như một cuốn phim dài bị đứt, anh cũng như số phận của hàng triệu người con dân Việt Nam, phải bỏ xứ ra đi, lưu lạc nổi trôi trên khắp bốn bể năm châu như bầy chim lạc tổ:
“Nếu ai hỏi tôi nơi nào địa chỉ,
Đã qua nửa vòng trái đất đau thương.
Tôi còn chi trong mắt đời bão nổi,
Suốt kiếp lưu vong không chốn về nguồn…”
(Địa chỉ tôi)
Dầu xứ người có đẹp, có văn minh, khoa học có tiến bộ vượt bực, nhưng có nơi nào quý bằng nơi mình đã sinh ra và lớn lên? Làm sao nhận nơi đây làm quê hương cho được khi quê hương thật sự của mình đang bị đọa đày, khổ ải dưới ách cai trị độc tài của CS và cũng làm sao có nơi nào đẹp bằng chốn quê hương?
Quê hương đã được ví với nhiều danh từ khác nhau. Quê hương là mẹ, mẹ đã ấp ủ hình hài con bằng những lời ca dao mật ngọt, quê hương là sông dài, quê hương là biển rộng, quê hương là những đồng lúa chính, quê hương là cái nôi êm ái từ thuở nằm nôi; nhưng với Quốc Nam quê hương là Người Tình muôn thuở! Người Tình muôn thuở của con tim, khối óc, người tình của từng giấc mơ từ khi mới nằm nôi cho đến cuối cuộc đời, người tình đã đi vào niềm thao thức không nguôi.
… “Bởi hồn tôi khắc khoải từng đêm mê
Bến hạnh phúc là quê hương bất hạnh…
(Địa chỉ tôi)
… “Trong lò lửa đỏ quê hương đó
Em hãy cùng ta đốt lửa hồng”.
(Giữ lửa quê hương)
Và trong giấc mơ trở về xây dựng lại quê hương, Quốc Nam đã nhắn nhủ người tình:
“…Giúp ta một buổi trăng trình sớm
Cắm lại Cờ Vàng trên đất thiêng” (Giữ lửa quê hương)
Đọc xong hai tập thơ “Người Tình Quê Hương” và “Quê Hương Nước Mắt” của Quốc Nam, những giòng thơ tâm tình tự trái tim của người thi sĩ đã được mệnh danh là “Chiến Sĩ Văn Hóa” vẫn còn để lại trong tôi nhiều cảm xúc. Cùng chung với tâm trạng của thi sĩ Quốc Nam, chúng ta hãy cầu nguyện cho hồn thiêng sông núi hãy phù trì cho lớp thế hậu duệ, những con cháu của Quang Trung, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Bà Trưng, Bà Triệu… sẽ nối gót cha ông tiếp tục đấu tranh cho giấc mơ dựng lại Cờ Vàng trên quê hương Việt Nam mong sớm thành sự thật, để có một ngày huy hoàng như Quốc Nam đã ray rứt cầu xin:
… “Thức dậy đi, hỡi óc tim biển cả,
Tuổi trẻ ơi, những biểu tượng cuối cùng.
Là niềm tin của giòng giống tiên rồng,
Hãy trở lại quê hương là lịch sử…”
(Hãy trở lại quê hương làm lịch sử)
… “Hãy giúp tôi về quê nhà diễm tuyệt,
Cắm ngọn Cờ Vàng trên đỉnh vinh quang.
Dân tộc tôi bừng sức sống đấu tranh,
Ngàn năm vẫn kiêu hùng vùng Đông Á…”
(Vàng khăn tang cho quê hương)
THU NGA