Sử gia Cao Thế Dung: Quốc-Nam
trên ghềnh thác quê hương.

Sử gia, nhà văn Cao Thế Dung: Quốc-Nam dâng cả một phần đời cho nghiệp văn thơ và đấu tranh.
Hơn mười năm trước khi còn ở quê nhà, tôi đã ‘mê’ nụ cười bao giờ cũng tươi, tiếng nói bao giờ cũng đằm thắm chân tình của một chàng Cựu Chiến Binh, vóc dáng thư sinh bạch diện, nhưng tâm hồn lại rực lửa đấu tranh. Chàng có cái tên ‘cha sinh mẹ đẻ’ Quốc Nam. Mười năm sau đọc thơ của chàng tôi lại bồi hồi, lại thêm một lần nữa mê thơ của chàng. Vì thơ ấy phát tiết trong cảnh lưu đày, đọc từng câu, từng bài ta chỉ thấy ta như cái bóng dật dờ trôi nổi trên cõi ‘thiên đàng yêu dấu’ của Đất Việt Trời Nam.
Như chừng tên là Quốc Nam từ lọt lòng mẹ nên thơ Quốc Nam chỉ thấy lưng trời nhớ thương non nước trong cơn mộng rất hoa gấm từ cõi thần tiên. Thơ Quốc nam thiết thân với Quê Cha Đất Mẹ, như thân với núi cùng sông.
Hơn mười năm trước, thơ Quốc Nam đã chan hòa ánh sáng tin yêu. Quốc Nam xuất thân Trường Võ Bị Quốc Gia Đà-Lạt. Tôi vẫn yêu nguôi truờng cũ mà 30 năm về trước mình đã một lần từng bước theo nhịp quân hành, ngực đeo huy hiệu ‘Liên Quân Dalat’ của một chàng SVSQ Trừ Bị. Thế rồi như một chiều tàn, binh nghiệp dở dang… Hai chữ Đà-Lạt xa xưa, Quốc Nam mang thương tích từ chiến trường, đã cho tôi cái hình ảnh của yêu dấu, tin tưởng và đầy kiên nghị của một chàng Sinh Viên Võ Bị khởi nghiệp từ một thế hệ mới – Thế hệ của thập niên 1960…
Thời gian bay vèo như lá thu xưa. Lại một buổi chiều tàn. Những chiều tàn không thể quên. Tôi ngồi thơ thẩn bên bìa rừng Trại Tạm Cư Fort Chaffee vào cuối năm 1975, một học trò cũ từ Hồng Kông mới qua chạy lại thăm thày báo một tin vui. Cơn mộng yêu dấu của riêng mình chợt tan. Bất giác tôi bật dậy, nắm tay thân yêu rồi sửng sốt: ‘Quốc Nam chạy thoát?’ – Chàng Cựu Chiến Binh thư sinh bạch diện ấy bỏ nước ra đi vào giờ thứ 25 – trên con tàu định mệnh Trường Xuân. Tôi lại nhủ thầm nhắn với bọn Sói Lang Hà-Nội: ‘Ta còn anh em… Quân thù sẽ khốn khổ với anh em ta, giới văn nghệ’.
Từ dạo ấy đến nay, Quốc-Nam dâng cả một phần đời cho nghiệp văn thơ và đấu tranh. Thơ Quốc-Nam không còn là một Quốc-Nam với thú riêng mình. Thơ Quốc-Nam là tâm sự như tấm lụa đào trải dài trên thương tích tột cùng đớn đau của Dân Tộc… Tấm lụa đào ấy lung linh màu sắc của da trời, của rừng thông, của hàng dừa, của muôn vàn nét thanh tân trên miền nước non cẩm tú. Thơ Quốc-Nam không phải là trau chuốt từng chữ từng lời. Thơ Quốc-Nam không phải là cái nhịp điệu của những thanh âm cầu kỳ. Thơ Quốc-Nam là một Thái Độ. Thái độ ấy từ một kiên định đấu tranh. Đọc thơ Quốc-Nam, ta thấy tỏa ra một Niềm-Tin vốn được dưỡng dục từ Quê-Hương yêu dấu phiêu bồng, nhưng bao giờ cũng như bao giờ ‘còn non còn nước còn mình’… một lòng sắt son.
Ta có thể nói chừng nào quân thù quét sạch lá rừng bấy giờ ta mới hết kẻ diệt thù chung. Ta sẽ thắng và tất thắng. Đó là sự thực không thể nào sai lầm. Năm nay không thắng, sang năm ta thắng… Thập niên này không thắng, thập niên sau ta thắng. Đó là chân lý hai năm rõ mười. Chân lý ấy đã là sức sống màu nhiệm của Việt-Nam trong dòng sinh mệnh Dân Tộc vốn như thác lũ, xanh như rừng thông. Sức sống kiên cường của Dân Tộc ta đã là chân lý không sức mạnh nào của loài người có thể đổi dời… Đọc thơ Quốc-Nam, ta thấy tiềm tàng cái chân lý ấy vốn thừa hưởng từ Nước Non ngàn dặm cẩm tú.
Mười một năm qua, từ ngày Quê Mẹ lọt vào tay quân thù gian hiểm, hàng ngàn hàng vạn anh em ta, đồng bào ta vẫn liên tục vùng lên, quyết tâm lật đổ cường quyền… Mười một năm qua, hàng chục tờ báo, hàng ngàn vạn bản nhạc, bài thơ đều hướng về Quê Hương vời vợi nhớ thương…
Trong cơn thác lũ của thơ văn ca nhạc đấu tranh, thơ Quốc-Nam là một trong những tình khúc viết bằng tâm hồn, viết bằng nước mắt, trái tim dâng trọn vẹn cho Quê Hương. Trong dòng thác lũ thơ văn ca nhạc đấu tranh ấy, ta tìm được sự thực này: Dù non mòn đá lở nhưng lòng người Việt đối với Đất Nước không thể mờ phai, dù nhất thời phải xa quê thì lòng yêu dấu Quê Mẹ với một Đức Tin của Truyền Thống Dân Tộc vẫn ngạo nghễ mà bay bổng trên khắp trời cao biển rộng, nhưng bao giờ cũng như bao giờ hồn vẫn lãng đãng trôi về miền cố quốc.
Thơ Quốc-Nam không phải để ngâm trong cuộc trà dư tửu hậu. Thơ Quốc-Nam ta ngâm trong vườn đá tảng, thơ thẩn một mình hướng về góc biển chân trời mà tìm ra Quê Hương ngàn trùng yêu dấu. Thơ Quốc-Nam ta ngâm khi ngồi trên ghềnh thác, mà nghe cơn lũ cuốn nước về xuôi.
Washington, D.C. năm 1986
CAO THẾ DUNG
(Giáo sư, Sử Gia, Nhà Văn, Phê Bình Gia Văn Học VN)
About quocnam