LTS.- Nhà văn Hoàng Hạc, chủ nhiệm kiêm Chủ Bút bán nguyệt san Đây Ngọc Lân (xuất bản tại tiểu bang Louisisana) số 38 bộ mới ngày 15 tháng 3 năm 1994, trong bài viết “Những Vì Sao” đã viết: Chỉ nội trong tháng đầu tiên của năm 1994, Hội Sinh Hoạt Văn Hóa New Orleans (Louisina) chúng tôi đã vinh danh nhiều người. Người thứ nhất là thi sĩ Quốc Nam mang tước danh “Chiến Sĩ Văn Hóa VN Hải Ngoại”, với công trình: nhà xuất bản Đông Phương Foundation và Đài Phát Thanh Sài-Gòn ở Seattle. Nhân vật kế tiếp là cựu Đại Tá Đỗ Kiểm (Chủ Tịch Cộng Đồng VN tại New Orleans), và Linh Mục Việt Châu (cựu Chủ Tịch Liên Đoàn Công Giáo VN tại Hoa Kỳ).
Hai năm sau đó, một bài điểm sách thật công phu về Tác Phẩm của Quốc Nam viết bởi Linh Mục Lã Mộng Thường (Tác Giả nhiều cuốn sách giá trị đã xuất bản) từng là đề tài phát biểu trong một chương trình sinh hoạt văn hóa tại thành phố New Orleans, đã được phổ biến rộng rãi trên báo chí và phát thanh khắp năm châu trong mùa Quốc Hận năm 1996. Trong các báo này, có nguyệt san Hồn Việt (tạp chí Việt ngữ kỳ cựu nhất hải ngoại) số tháng 6/1996, đã đăng bài viết nêu trên của Linh Mục, nhà văn Lã Mộng Thường, nguyên văn sau đây:
Vào dịp tháng tư năm 1995, ngót 100 cơ quan báo chí và truyền thanh khắp thế giới tự do đã đề cập đến những hoạt động văn hóa và cộng đồng của thi sĩ Quốc Nam qua loạt bài “Quốc Nam 20 năm trong mặt trận văn hóa lưu vong”. Đồng thời, ông cũng đã được một số tổ chức văn hóa hoặc cộng đồng ở Mỹ và Gia Nã Đại tuyên dương là một “Chiến Sĩ Văn Hóa VN” kiên cường của người Việt hải ngoại.
Mùa Quốc Hận năm 1996, thi sĩ Quốc Nam lại được một số cơ quan truyền thông nhắc nhở đến tác phẩm “Quê Hương Nước Mắt” của ông dưới tựa đề “Quốc Nam, 21 năm, Quê Hương Nước Mắt”. Đây là một quyển sách do Cơ Sở Văn Hóa Đông Phương xuất bản lần thứ nhất vào năm 1987, từng được nhiều người Quốc Gia yêu nước khắp nơi (đặc biệt là giới trẻ) đón nhận nồng nhiệt, và đã trở thành tập thơ đầu tiên ở hải ngoại in đi in lại tới 4 lần trong khoảng thời gian không đầy nửa thập niên.
Bài điểm sách khá dài và công phu này được viết bởi Linh Mục Trần Đoàn tức Văn nhạc sĩ Lã Mộng Thường, một tác giả tên tuổi trong sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam hải ngoại. Ngài đã ấn hành cả chục cuốn sách, trong số này có 2 tác phẩm nổi bật là “Hương Hoa Dân Việt và Linh Mục, Người Là Ai”.
Nhân tháng tư 1996 đánh dấu ngày Quốc Hận năm thứ 21 của hàng chục triệu quân dân Miền Nam Việt Nam, chúng tôi xin mời quý vị theo dõi bài của Linh Mục, văn nhạc sĩ Lã Mộng Thường viết về tác phẩm & tác giả “Quê Hương Nước Mắt” Quốc Nam sau đây:

Điều hiển nhiên, khi đọc một tác phẩm chắc chắn sẽ có người thích, người không thích. Tác phẩm nào người đời ưa chuộng bao nhiêu tức là đã nói lên được tâm trạng của người đọc bấy nhiêu bởi “đồng ứng tương cầu”. Mới thoạt mở cuốn Quê Hương Nước Mắt, ngay bên trong bìa sách tôi đã thấy có 11 lời nhận định từ những người thuộc các thành phần khác nhau khen ngợi. Không cần chọn lựa để tránh thiên vị, tôi trích 5 câu theo thứ tự từ 2 đến 6 để quý vị nghe qua.
Phê bình gia Ngô Tường Dũng cho rằng ‘Trong tác phẩm QHNM, Quốc Nam đã vạch chương trình cho người trẻ làm. Sống tiết kiệm, dù có vui chơi thì cũng phải luôn nhắc mình là người vong quốc, và nuôi ước vọng ngày trở về quang phục đất nước…’
Hòa Thượng thi nhân Thích Giác Nhiên lại thấy ‘Tập Quê Hương Nước Mắt… hơn trăm trang mà ý nghĩa đủ đầy, mô tả hết bao nỗi niềm đau đớn…’
Nhà văn, sử gia Cao Thế Dung nhìn nhận ‘Thơ Quốc Nam là tâm sự như tấm lụa đào trải dài trên thương tích tột cùng đớn đau của dân tộc… Trong cơn thác lũ của thơ văn ca nhạc đấu tranh, thì thơ Quốc Nam là một trong những tình khúc viết bằng nước mắt, trái tim dâng trọn vẹn cho quê hương’.
Linh Mục nhà báo Thanh Hùng đưa ra nhận xétt “QHNM là tiếng khóc của tình yêu nước, thương nòi…”
Và nhà báo kỳ cựu Sao Biển nhìn thấy “Quốc Nam, một nhà thơ tiêu biểu cho giòng thi ca lưu vong hải ngoại. Với những trăn trở, sầu tủi trên bước chân lưu đày, nhà thơ đã hình thành thi tập QHNM như một vọng âm của tình yêu dân tộc, tổ quốc, và đã là chất xúc tác đối với tuổi trẻ hải ngoại”.
Riêng tôi, đọc Quê Hương Nước Mắt chúng ta sẽ bắt gặp lại nơi chính mình nhiều tình tiết sâu đậm được Quốc Nam diễn tả về thân phận của người vong quốc, đồng thời nói lên nỗi lòng khắc khoải nơi kẻ tha hương. Có thể nói, Quê Hương Nước Mắt là tâm sự của người Việt lưu vong, do đó nó được ưu đãi và yêu chuộng. Tác phẩm đã được mọi giới hoan nghênh, bởi vì nó chứa đựng tình yêu thương dân tộc, giống nòi và thiết tha với đất nước của chính họ, của chúng ta. Nói như thế, tôi cũng phải thêm rằng, đối với những người không cần biết gì đến quê hương Việt Nam hoặc không muốn chấp nhận mình là người Việt, thì tập Quê Hương Nước Mắt sẽ chẳng là gì đối với họ.
Xét như vậy, tôi không có gì để cống hiến quý vị, mà chỉ nói lên phần nào tâm tình chất chứa nơi tác phẩm, nỗi lòng đau xót, uẩn ức trong những vần thơ của tập Quê Hương Nước Mắt, những thực trạng đã và đang diễn tiến ngay nơi tâm hồn mỗi người chúng ta – những người Việt lưu vong. Nói cách khác, tình yêu quê hương mang mang ám ảnh những vần thơ của Quốc Nam, xuyên qua tâm tình một lữ khách lang thang vô định nhớ về quê hương, nơi đó có thân bằng quyến thuộc, có người tình, là cả một dân tộc đợi chờ, nhưng phận số oan nghiệt đã giành giựt tất cả, để rồi lữ khách chỉ còn biết đem mơ ước biến thành lời thề trở lại. Người lữ khách đó được Quốc Nam diễn tả thành hiện thân của quý vị, của tôi, và mỗi người Việt chúng ta.
Những vần thơ trong Quê Hương Nước Mắt khơi dậy tận đáy lòng người thưởng thức niềm đau ray rứt của kẻ vừa bị cắt lìa một phần thân thể, phải tha hương. Một kẻ vì giá cả Tự Do phải bỏ chạy, bị đuổi bắt mà vẫn luôn ngoái cổ lại, không phải là để xem kẻ rượt bắt mình tới gần hay chưa, nhưng ngoái cổ lại vì lòng thiết tha không thể dứt bỏ mối thân thương của mình còn sót lại quê nhà:
‘Ta ngậm ngùi quay gót bỏ quê hương,
Giá tự-do đắt gấp triệu bạc vàng.
Ta mất hết những mẩu đời yêu dấu’ (trang 22)
Thử hỏi còn gì khiến lòng người cay đắng hơn khi thấy cảnh khổ ải của tình thân ruột thịt:
‘Anh Năm con cải tạo ở Cao Bằng,
Rừng nước độc biết ngày nào bỏ xác?
Anh Hai con với mảnh đời cơ cực,
Lao động vinh quang sinh sống qua ngày’ (trang 34)
Chẳng những thế, kẻ đào thoát bất đắc dĩ lại mang tâm tư đau xót, vì phải bỏ mồ mả cha ông, một gạch nối đến Tổ Tiên, giống nòi:
‘Một lần đi bỏ mồ mả ông cha,
Nay thăm thẳm hai phương trời cách biệt’ (trang 58)
Bởi đó, tất cả những mất mát dồn đọng, đã khiến một tâm hồn kiêu hãnh vì giống nòi mang tâm trạng yếm thế:
‘Tôi nhục nhã trong tôi,
Kẻ bỏ nước ra đi.
Bỏ anh em ở lại,
Bỏ đồng đội gian nguy’ (trang 15)
Tuy nhiên, càng đau xót về thân phận bao nhiêu, người ta càng cảm thấy vấn vương về quá khứ bấy nhiêu. Nỗi vấn vương đã tạo thành niềm nhung nhớ:
‘Ta nhớ quê ta nẻo đường sỏi đá,
Kỷ niệm thu đầy tim óc yêu thương.
Dừng chân Tha La một độ qua đường,
Ta luyến nhớ vùng khô cằn Hậu Nghĩa’ (trang 19)
Có xa quê, con người mới thấy mảnh đất đã nuôi lớn mình, những đường xưa lối cũ thân thương, ngạt ngào kỷ niệm tha thiết:
‘Hỡi anh kháng chiến trên đường đất nước,
Hôn giùm ta mảnh đất cũ sân trường,
Hàng dậu tre và bóng nắng ven sông,
Tiếng cá động chao lục bình xuôi ngược…’ (trang 56)
Từ đó, những ngày tháng cũ gợi về, khiến lòng lữ khách càng thêm xót xa:
‘Nơi xứ lạ quê người ta nhìn lại,
Hình hài này chừ trĩu nặng ưu tư.
Mùa xuân sang ta mơ trời xuân cũ,
Nắng xuân vàng hay nước mắt phía trời thu?’ (trang 22)
Và để rồi, lòng càng đau, lữ khách càng luyến nhớ người thân:
‘Nhưng Việt Nam, ôi thân yêu gợi nhớ,
Đồng lúa vàng ôm ấp lũy tre xanh.
Lời ca dao đượm ngọt giọng trữ tình,
Và nơi đó, ta còn mẹ cha, anh em, giòng họ’ (trang 21)
Nơi tâm trạng tha hương, tất cả những mối thân thương hòa đọng lại, tạo thành hình ảnh bình thường của thời cũ, in đậm tận đáy lòng mỗi người dân Việt:
‘Cho ta nhắn bạn bè,
Và người tình phố nhỏ.
Một đời ta còn nghe,
Tiếng sáo diều trong gió,
Lời em hát chiều quê,
Trên bờ sông thánh địa’ (trang 29)
Ở đó, thực tại trở thành dung môi nhắc nhở tình quê hương được đại diện bởi địa danh mang kỷ niệm sâu đậm nhất:
‘Xuôi nam mơ nắng trên tà áo,
Ta lại một lần bỏ bến cao.
Từ dạo mưa bay mờ dáng nhỏ,
Thông reo ta ngỡ xứ hoa đào’ (trang 60)
Tình yêu quê hương của người vong quốc dào dạt bao nhiêu và nhung nhớ dồn đọng bao nhiêu, thì càng kiến tạo niềm đau thân phận bấy nhiêu:
‘Ta hôn mê những chiều xa cố xứ,
Ly rượu nồng sao phá nổi cơn đau.
Nhớ Việt Nam từng dốc đá nhịp cầu,
Quê nghèo đã nuôi ta thành bất khuất’ (trang 19)
Quê hương ơi, người tình mà kẻ lữ thứ hằng ấp ủ, sao giờ này chừng muôn đời cách ngăn:
‘Còn gì mà mong nhau,
Quê hương đầy bất hạnh.
Lửa cháy trĩu ngang đầu,
Qua ngày giá lạnh,
Em trào lệ run đau’ (trang 28)
Những nơi chốn kỷ niệm ngày xưa dấu ái, nay biến thành chứng tích ghi nhận thực tại suy thoái:
‘Con đường xưa em sang,
Khu trường đua Phú Thọ,
Hàng cây chừ bỡ ngỡ,
Những bàn tay nhục nhằn,
Đưa em vào đổ vỡ’ (trang 29)

Nào đâu đã hết, như tai họa giáng xuống những con dân vô tội, biết bao người tìm đường tránh thoát khỏi ngục tù này lại phải đối diện với sự dã man tàn ác khác. Người Việt nào không cảm thấy sôi sục nỗi uất hận, dù chỉ nghe tới thảm cảnh vượt biên:
‘Tôi nhìn biển Thái sóng gào phẫn nộ,
Bao đồng bào tôi gục chết lõa lồ,
Trong chuyến hải hành tìm bến Tự Do,
Sao nước mắt tôi biến thành uất hận!’ (trang 32)
Và nỗi thống khổ nào có thể hơn niềm đau:
‘Ta tự hỏi tới ngày con đầy tuổi,
Lời trần tình từ Mỹ gửi về em.
Em trả ta bức điện tín ướt mềm:
Con đã chết và quê hương đã chết!
Nước mắt ta thành dòng sông bất diệt,
Nghiền nát hồn trong vũng máu quê hương’ (trang 24)
Nỗi thống khổ tột cùng như thế, cộng thêm thân phận lưu đày dày xéo, dồn ép tâm hồn kẻ lưu vong, càng kiến tạo nơi lòng người tình của quê hương, nỗi xót xa cho giống nòi triền miên ngụp lặn trong đau thương tàn phá, muốn lãng quên cũng không thể được, dù chỉ là một trốn chạy nơi giấc ngủ:
‘Ngủ đi em cho quên thời chinh chiến,
Máu đồng bào đã đổ nặng oan khiên.
Đất Việt Nam đeo đẳng vạn lời nguyền,
Từ nguyên thủy vẫn quay về tan nát’ (trang 67)
Ru người tình Việt Nam ngủ, nhưng lòng chàng làm sao yên được với thực trạng:
‘Con ra đời không cả chiếc nôi hồng,
Mẹ tủi nhục trong vùng kinh tế mới’ (trang 24)
Mỗi người Việt là một thi nhân; chính bởi đó tiếng kêu thét của một cõi lòng giãy giụa trong nỗi thống khổ tột cùng, để giải bày niềm thao thức được phát tiết thành thơ. Nói cách khác, tình yêu quê hương, giống nòi cảm ứng nỗi thống khổ quê hương nơi con dân Việt tha phương, đã tạo nên những vần thơ Quê Hương Nước Mắt:
‘Đời thi nhân vấn tang trắng cúi đầu,
Vắt máu tim thành thơ dâng Tổ Quốc’ (trang 56)
Quê Hương Nước Mắt nói lên nỗi niềm thầm kín của tâm hồn dân Việt tha hương cảm ứng với thực tại nơi quê người. Thi nhân Việt lưu vong đối diện thực trạng thân phận lưu đày mang con tim rướm máu:
‘Dứt lìa quê hương nghe tim trần rạn vỡ,
Nỗi tủi buồn nào hơn thế không em?
Ta xa em giờ đong nỗi muộn phiền,
Cơn nước lũ xoáy hồn ta chết ngất’. (trang 23)
Tuy nhiên, đau thương ngần ấy đâu đã hết; sống lăn lộn với đời nơi quê người, tình-quân Việt thuờng bị cảnh sắc chung quanh nhắc nhở đến thân phận giống nòi:
‘Nơi xứ lạ quê người ta nhìn lại,
Một quãng đời không giấc ngủ bình an.
Quê hương ta là nước mắt trăm hàng,
Là bất hạnh, là chiến tranh tàn phá’ (trang 21)
Thế nên, cho dù đất đai người có quyến rũ cách mấy, cảnh người có thơ mộng đến đâu chăng nữa, thì nỗi đau thầm kín vẫn làm thi nhân dân Việt cảm thấy lạnh lùng với thực tại:
‘Vơi một nửa dòng đời,
Ta say cơn nắng hạ.
Giấc mộng đã xa vời,
Bờ sông xanh bỗng lạ’. (trang 28)
Nước đã xa, thân đang dần tàn trong khắc khoải, người tình của quê hương quằn quại với niềm đau u uẩn:
‘Lòng ta một góc trời u tối,
Có bóng chim côi lượn cuối trời.
Ta mỏi mòn đi tìm nắng mới,
Xuân hồng kết nụ… hỡi quê ơi!’ (trang 54)
Quê hương tan tác khiến con dân tản mát mang mối hận đau thương. Người tình-quân đất Việt nào không rơi lệ:
‘Ta lưu đày ta một đời giãy chết,
Nắng phiền buồn theo nước mắt tuôn rơi’. (trang 18)
Nỗi đau quằn quại trong thực trạng lưu đày đã là năng lực cho người Việt thao thức. Niềm thao thức này được Quốc Nam nói lên rõ nét trong phần Vài Dòng Mở Cửa:
‘Một tên da vàng bị lưu đày trên phần đất vật chất màu mỡ, mà chưa phút giây nào cảm thấy lòng mình được an bình, kể từ ngày 30 tháng tư năm 1975 đến hôm nay’ (trang 12)
Tất nhiên, là con dân nước Việt lưu vong, cho dù sinh sống bất cứ nơi đâu cũng đều cảm thấy:
‘Tôi về đây vọng hướng Thái Bình Dương,
Bên bờ kia triệu con mắt lửa hồng.
Nhìn nước Mỹ buồn hay vui nào biết?’ (trang 32)
Tuổi thanh niên mang trên vai gánh nặng gia đình, phải lo toan miếng cơm manh áo cho con cái, thì những nỗi khó khăn thực tại cũng phần nào khuây khỏa niềm đau vong quốc. Trái lại, tuổi già sống nơi nước người, thật là cả một cực hình bó buộc phần đời lúc bóng xế. Thương cảm cho hoàn cảnh bậc trọng tuổi, thân thanh niên lại càng mang nặng nỗi ưu tư:
‘Con thưa cha bao năm rồi xa xứ,
Đời còn gì cho một kiếp lưu vong.
Con giam thân trong vạn nỗi tủi buồn,
Quê hương đó, xa nửa vòng trái đất.
Cha ở đây ngày mỏi mòn héo hắt,
Đêm nghe mưa gõ nhịp buốt linh hồn.
Cha thở dài trong nỗi nhớ mênh mông,
Từng khuôn mặt cháu, con thành máu đỏ’ (trang 40)
Rồi còn thế hệ con cái mai sau, trách nhiệm giáo dục, khai hóa dân tộc đè nặng, càng khiến người dân lưu vong cảm thấy bó tay bó chân:
‘Nay anh đi xuôi dòng đời nước mắt,
Đưa em làm kẻ vong quốc bơ vơ.
Thế hệ con mình đau xót vô bờ,
Ai sẽ dạy chúng tình quê gắn bó?’ (trang 68)
Bởi vậy, chẳng lạ gì có câu ‘không nơi nào đẹp bằng quê hương ta’. Vâng, quê ta đẹp không những vì chứa đựng mồ mả cha ông, biết bao cảnh đời yêu dấu, đường xưa xóm cũ, mà còn là chốn đào luyện con dân không quên nguồn cội, nơi giáo dục và nuôi dưỡng thế hệ mới trong tình thân dân tộc. Niềm mơ trở lại quê hương từ đấy phát sinh, và đó cũng là niềm mơ ước chung của người Việt lưu vong:
‘Đời lưu vong tàn tạ mảnh linh hồn,
Kinh sám hối ngân vang lời tiễn biệt.
Hãy giúp tôi về quê nhà diễm tuyệt,
Cắm ngọn Cờ Vàng trên đỉnh vinh quang’ (trang 48)
Hoàn cảnh và nhu cầu khơi động ước mơ. Ước mơ trở lại Việt Nam không phải chỉ riêng Quốc Nam ấp ủ, mà đó là nỗi khắc khoải nơi tâm hồn của mọi người Việt lưu vong. Tác giả Quê Hương Nước Mắt nhận thức nỗi đau của tâm hồn mỗi con dân Việt đang bị dằn vặt với tháng ngày lữ thứ, nhưng dạ luôn hướng về hương xưa quê cũ:
‘Con ra đời giữa tháng tư tưởng niệm,
Nước mắt đong đầy ghi dấu trăm năm,
Linh hồn bố lang thang loài chim biển,
Triệu người lưu vong gọi mãi Việt Nam’ (trang 66)
Chẳng những thế, niềm mơ ước an nghỉ ngàn thu nơi lòng dất mẹ cũng đã được Tác Giả coi là linh thiêng mang sứ mạng xoay dòng sinh mệnh dân tộc:
‘Xin cho tôi được chết,
Nơi quê hương Việt Nam.
Máu chúng tôi sẽ kết
Trang sử mới huy hoàng,
Trong lòng dân tộc Việt’ (trang 17)
Ước mơ này ám ảnh Tác Giả không lúc nào nguôi, nhất là những lúc đêm về trăn trở:
‘Dừng bước năm năm Seattle,
Tâm tư chùng lắng mỗi hoàng hôn.
Ta mơ một sớm về quê mẹ,
Quên những đêm dài lệ héo hon’ (trang 53)
Từ đó, Quốc Nam chẳng những nuôi lớn niềm mơ ước của mình, mà còn muốn truyền lại cho các thế hệ nối tiếp:
‘Việt Nam ơi! Thương biết mấy đến bao giờ.
Bố con ta về dựng người dựng nước’ (trang 66)
Niềm mơ nào không cần thực hiện mà đã có thể thành hiện thực? Ước vọng nào tự trời rơi xuống, không cần những bàn tay góp sức? Thế nên, nhận ra thân phận di tản quá nhỏ nhoi trước sứ mạng bồi đắp quê hương, Quốc Nam gióng lên lời kêu gọi chung tay góp sức. Mời quý vị nghe nỗi lòng Quốc Nam trong phần Vài Dòng Mở Cửa:
‘Mặt khác, qua cuốn sách nhỏ bé này, tôi cũng muốn gởi gấm tới thế hệ tam thập và tuổi trẻ Việt Nam đầy năng lực: hãy dấn thân nhận lãnh vai trò ‘trở lại quê hương làm lịch sử’. Thế hệ chúng tôi xin làm những viên gạch lót đường cho thế hệ các bạn tiến lên xoay vần bánh xe lịch sử…’ (trang 11)
Nhìn theo khía cạnh khác, làm sao có được tiếng nói chung nếu không ai khởi xướng? Quốc Nam dù vô tình hay hữu ý, đã trở thành người nói lên lời hiệu triệu của những tình-quân nước Việt:
‘Thức dậy đi, hỡi óc tim biển cả!
Tuổi trẻ ơi, những biểu tượng cuối cùng,
Là niềm tin của dòng giống Tiên Rồng.
Hãy trở lại quê hương làm lịch sử’ (trang 19)
Lời hiệu triệu này không phải chỉ dành cho lớp người vong quốc, mà còn mời gọi những tâm hồn yêu nước, dù ở bất cứ nơi đâu:
‘Tiếng vọng anh em Phục Quốc âm thầm.
Quê hương khổ đau nước mắt ngập tràn.
Dân ta khóc rung vùng trời Đông Á.
Hãy góp lại những bàn tay sắt đá,
Vạn triệu tâm hồn yêu nước hôm nay,
Lòng kiên cường bất khuất ngút sông dài,
Nung chí lớn cứu Việt Nam tăm tối’ (trang 20)
Quốc Nam nhận biết sức mạnh và ý chí tuổi trẻ, nên đã không ngần ngại thổi một ngọn gió phấn đấu cho lớp người dám quên mình này:
‘Ta, tuổi trẻ, một lời nguyền trở lại,
Ôm đất quê hương nước mắt đã tràn.
Nhìn Việt Nam rồi gục chết cũng đành,
Trời phải sáng cho dân ta hạnh phúc’ (trang 20)
Trở thành ngọn gió đầu đàn chưa đủ, Quốc Nam còn thúc dục:
‘Hỡi những người tuổi trẻ,
Hãy nghe tiếng tim tôi.
Hãy giúp tôi trở lại,
Việt nam quê hương ơi!’ (trang 16)
Tuy nhiên, khi nhìn thấy thực trạng dần lãng quên nòi giống nơi những kẻ vô tình, Quốc Nam nhẹ nhàng nhưng cay đắng, thở than qua giọng nài nỉ:
‘Xin chào đồng hương sống đời tươi sáng,
Trên đất người ngập nhung lụa xa hoa.
Đã quên chưa quê ta máu chan hòa,
Đồng bào ta đang gởi hồn tan nát!’ (trang 32)
Dĩ nhiên, còn gì đau hơn khi thấy quê mẹ đang rên xiết, trong lúc con cái chạy theo những đua đòi phù phiếm. Khác với người có quyền sát phạt lên tiếng răn đe, cảnh cáo hoặc ra án trừng trị; khác với những môi mép chính trị nói một đàng làm một nẻo, dùng đủ mọi mánh khóe đôi khi đưa đến lừa gạt; cũng khác với loại con buôn thời cơ chỉ rình rập kiếm mối lợi riêng tư hoặc dùng người khác làm bàn đạp tiến thân… Tình-quân của quê hương tha thiết và chân thành, cùng những con dân đồng dòng máu chung tay dọn đường về đất mẹ:
‘Anh, tôi thông cảm nhau,
Chưa bao giờ như thế.
Yên lặng mãi được sao,
Uống máu này tuyên thệ,
Phải trở về quê xưa’ (trang 39)
Riêng cá nhân, Quốc Nam muốn nêu gương cho mọi người giữ vững niềm mơ trở về quê cha đất tổ bằng cách tự đưa ra lời hứa:
‘Ta xin thề trên mộ mẹ hôm nay,
Quyết đưa mẹ về bên mồ Tiên Tổ’ (trang 56)
Không những hứa với linh hồn mẫu thân, Quốc Nam còn bày tỏ tâm nguyện nhiệt thành khắc khoải trở về đất Việt, qua lời thề trong niềm tin tưởng có Trời Đất chứng giám:
‘Con phải đưa mẹ cha về xóm làng,
Để hồn linh gặp lại ông bà tiên tổ.
Lạy Thượng Đế con muôn năm sầu khổ,
Xin cho tựu thành ước nguyện hôm nay’ (trang 59)
Chẳng những thế, tâm tình riêng tư của Quốc Nam cũng bị lệ thuộc vào niềm mơ ước làm cho quê hương tươi đẹp này:
‘Giao thừa ta đốt trầm hương ngát,
Xin những bàn tay xích lại cùng.
Thung Lũng Hoa Vàng xuân mới nở,
Cùng nhau dựng lại một quê hương.
Quê hương vẫn khổ đau trăm nỗi,
Bao chục triệu người đói lạnh căm.
Ta gọi em về trong ngóng đợi,
Việt Nam mùa tới đẹp tình xuân’ (trang 61)
Quốc Nam thực sự tin tưởng rằng: với sự liên kết của những người cùng chí hướng, tất có lý tưởng. Khi đã có lý tưởng hẳn nhiên hành động phát sinh:
‘Duyên văn chương bỗng muôn năm bền chặt,
Tâm sự nhau là chí lớn khôn cùng.
Mây vẫn buồn như kiếp sống lưu vong,
Nhưng Việt tộc đã sáng ngời lý tưởng’ (trang 63)
Trung thực mà nói, thơ Quốc Nam được gọi là thơ vì mang hồn thơ; nhưng nếu chỉ gọi là thơ có lẽ chưa đủ, mà phải gọi đó là tiếng cung lòng tức tưởi, đặc quánh, bị nỗi thống khổ vong quốc tạo thành mãnh lực dồn nén phải trào ra, nếu không sẽ bị nổ tung. Do đó, chẳng lạ gì, đôi khi Quốc Nam phải thét lên, không cần âm luật của thơ:
‘Quỳ xuống đây hỡi người tình bé nhỏ,
Mình nguyện cầu cho bè bạn, anh em.
Giờ khổ nhục trong gông cùm quỷ đỏ,
Lạy Chúa, cho mọi người lại bình yên’ (trang 68)
Người Tình Quê Hương
Những nỗi thống khổ hòa lẫn niềm nhung nhớ dằng dặc tạo cho Tác giả Quê Hương Nước Mắt nhắc đến quê hương như một người tình. Dĩ nhiên, quê hương không bao giờ lên tiếng từ bỏ người dân, mà chỉ có thành phần ngược lại. Hơn nữa, làm người tình của quê hương có tính chất trái ngược với người tình tự nhiên nơi kiếp nhân sinh. Khi đất nước an vui, có thể đứng vững vàng đối với quốc tế, dân chúng hãnh diện và cậy nhờ vào địa vị, uy tín này. Trái lại, chỉ có thể trở thành người tình của quê hương khi đất nước lâm vào cảnh tang thương, khốn cùng, khi những hành động yêu nước cho dù bằng tư tưởng, văn học, hoặc sự xông pha, dâng hiến cuộc đời cho lý tưởng thăng tiến giống nòi, có thể trở thành tai họa, hoặc lý do bị hiểu lầm hay mốc cứ cho sự chụp mũ che lấp mưu đồ của đối phương, và cũng có thể là yếu tố cho những thành phần buôn dân bán nước lạm dụng. Tất cả những điều kiện không thể trốn thoát đó đã tạo nên sự khó khăn cho kẻ yêu nước:
‘Nắng lên giọt nắng hao gầy,
Ta tương tư thuở còn đầy môi em.
Xứ người quạnh quẽ từng đêm,
Nghe hơi em thở càng thêm đắng hồn’ (trang 30)
Tuy nhiên, tất cả những khó khăn phải gánh chịu đó cũng chỉ được coi như giấc mộng, vì tình yêu quê hương nơi lòng dân Việt tha phương không có giới hạn, không thể đo lường:
‘Chỉ là giấc mộng đêm vần vũ,
Đôi mắt quê hương đẹp là thường.
Em nhé cất lời ca ngọt dịu,
Cho bè bạn ta cõi tù chung’ (trang 54)
Chính tình yêu này đã trở thành động lực khuôn mẫu lối sống của tình-quân, một hy sinh tự nguyện, cho dù đối với những niềm vui bình thường nho nhỏ, để một cách nào đó hiệp nhất với những người khác đang nằm gai nếm mật cho lý tưởng. Sự hy sinh tự nguyện này được Quốc Nam viết trong thư gởi những người bạn còn ở lại Việt Nam:
‘Và những tháng ngày lưu đày nơi xứ lạ, tôi chưa một lần ra sàn nhẩy quay cuồng theo nhịp nhạc gọi mời quyến rũ. Tôi đã cố gắng tìm quên trong công việc bề bộn gần như đêm ngày, bất kể thứ bảy và chủ nhật, như là một cách hành xác, để chia xẻ nỗi gian truân mà anh em đang can đảm chịu đựng’. (trang 50)
Tình yêu quê hương và ước mơ xây dựng đất nước, đã trở thành mối dây liên kết những người Việt lưu vong, tạo nên những cố gắng âm thầm ít ai biết tới. Quốc Nam nhận ra được ý chí này nơi con dân Việt ở hải ngoại, nên ông nói lên, như một cách gián tiếp khuyến khích và thúc đẩy mọi người tham gia:
‘Chúng tôi cùng nhau tự nguyện hy sinh những hưởng thụ cá nhân để tự nhủ mình đừng bao giờ quên quê hương mình, anh em mình đang ngóng chờ sự tiếp tay của khối người Việt hải ngoại’ (trang 51)
Tựu chung, Quốc Nam không những nói lên nghĩa vụ hiệp nhất của những người yêu nước thương nòi, mà còn coi đó là những công việc cần thiết phải được thực hiện, mong phần nào thay thế cho sự thiếu điều kiện sát cánh với những tình-quân khác, đang âm thầm chiến đấu cho giống nòi dưới mọi hình thức:
‘Tôi bỏ nước thành kẻ hèn trốn chạy,
Bỏ anh em, đồng đội giữa trùng vây.
Bao năm qua tôi vẫn đếm từng ngày,
Xin hành xác cho trọn tình trọn nghĩa’ (trang 47)
Đọc Quê Hương Nước Mắt chúng ta thấy, không phải Quốc Nam chỉ nói lên tâm tình người Việt lưu vong đối với đất nước, mà ông còn nhắc nhở mọi người nhớ đến niềm tự hào của con dân Việt Nam. Chúng ta hãnh diện về quê hương thân yêu hình cong chữ S:
‘Tôi sẽ quen, sẽ nhập cuộc bồi hồi,
Tim vẫn nhói quê mình sao vẫn đẹp!’ (tr.31)
Chúng ta hãnh diện về truyền thống, những đất lề quê thói, về người đàn bà Việt Nam, và muốn gìn giữ để truyền lại cho con cháu sau này:
‘Bố mong rằng mãi mãi con vẫn giữ được bản tính nhu mì của một người con gái Việt Nam, đễ giữ muôn đời cho bố mẹ, cho các em con, cho những thế hệ mai sau các phong tục đáng yêu của dân tộc mình…’ (trang 45)
Thế nên, không lạ gì khi chúng ta đọc thấy Tác Giả dùng hai người đàn bà Việt Nam làm gương mẫu để thế hệ trẻ lưu vong noi gương. Có thể nói, Tác Giả đã dùng hình ảnh của những người đàn bà Việt Nam ở hải ngoại để tạo dựng hình ảnh quê hương cho thế hệ trẻ lưu vong:
‘Bố muốn con và chị con cùng bố ca ngợi bằng tất cả trái tim và khối óc hình ảnh cần cù nhẫn nại của hai người đàn bà Việt Nam: đó là bà nội và bà ngoại của con. Bố muốn con nồng nàn yêu mến quê hương và ngôn ngữ Việt Nam, hơn tất cả những thứ gì mà con có thể có
trên đời’ (trang 27)
Quê hương là người tình muôn thuở của mỗi con dân Việt Nam, của quý vị, của tôi, của Quốc Nam. Tuy nhiên khi cuộc tình đã lỡ, cho dù bởi bất cứ lý do nào, chúng ta đều mang nỗi hờn phận số:
‘Ta gọi em mùa đông,
Nghe buốt giá linh hồn.
Đêm quê người thăm thẳm.
Nhớ em đến vô cùng.
– Với người tình cách xa.
Em đan giấc mộng ngà,
Lấp yêu thương vời vợi,
Dứt lìa mối duyên xưa!
– Ta vẫn giữ cho em,
Nguyên vẹn trái tim mềm,
Cho dù trăm con sóng,
Vỗ trong ta đắm chìm.
– Ngày mai rồi ta đi,
Muốn hôn em biệt ly.
Nhưng sao lòng đã vắng,
Như mộ phần bi ai.
– Hỡi mối tình phương đông,
Em đem trời quê hương,
Vào cơn giông bão cát.
Ta sợ đời lưu vong.
– Ta gọi em mùa xuân,
Trên biên giới Việt Nam…
Một đàn chim cất tiếng,
Thương ta đời chiến quân’ (trang 71-72)
Nói đúng sự thực, sự hiểu biết của tôi chỉ có hạn, nên trộm nghĩ, tác phẩm Quê Hương Nước Mắt chắc chắn gợi nơi quý vị dạt dào rung cảm hơn cả những gì tôi có thể diễn tả. Xin kính chào quý vị, và cám ơn thi sĩ Quốc Nam đã giúp tôi cơ hội nói lên lòng cảm ứng với thi tập Quê Hương Nước Mắt.
Lã Mộng Thường
(Văn Nhạc sĩ/Linh Mục Trần Đoàn – Mississippi, USA)
