Tôi muốn chứng minh với Tuổi Trẻ hải ngoại rằng: trong dòng sinh mệnh của lịch sử đấu tranh của nòi giống Việt, những dòng thơ khẳng khái đã nẩy nở đáng kính phục, và hiện nay tiếp tục nẩy nở một cách kiêu hùng nơi hải ngoại ở những con người như Quốc-Nam.
Con người là sinh vật có văn hóa.
Môi trường văn hóa đổi, con người sẽ thay đổi.
Ðấu tranh để:
Văn hóa hóa sự nghiệp và sự nghiệp hóa văn hóa.
QUỐC-NAM, CHIẾN SĨ kiêm THI SĨ của NHỮNG DÒNG THƠ KHẲNG KHÁI.
* Trích tác phẩm “Việt Nam Văn Học Sử Lược Khảo” của GS HẢI BẰNG Hoàng Dân Bình.
Vào Bài
~ * ~
Quốc Nam sinh năm 1944 tại Nam Ðịnh (Bắc VN), trong một gia đình Nho Giáo có truyền thống cách mạng. Tốt nghiệp Sĩ Quan Ðà Lạt năm 1967 và Ðại Học Meridian năm 1993. Quốc-Nam (viết tắt QN) làm thơ từ dạo mới 12 tuổi và ra đời sống bằng cây bút từ năm 1961.
Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, tác giả vượt biển bằng con tàu Trường Xuân năm 1975. Khi bước chân xuống tầu Trường Xuân để lánh nạn CS, QN tự nhủ: “Ta đã mất nước, nghĩa là đã mất hết mọi thứ, kể cả sự nghiệp và tiền bạc. Ta đã trở thành con số không. Vậy, ta phải làm lại cuộc đời từ đầu, với lòng nhẫn nhục tối đa”. Ngay khi tới trại tị nạn ở Hồng Kông, QN đã làm chủ bút báo Tre Xanh. Tới Hoa Kỳ tháng 9/1975, QN làm chủ nhiệm và chủ bút báo Hoài Hương sau đổi là Ðông Phương ở Seattle, WA.
Với ý chí đó, trong suốt hơn 3 thập niên sống ở quê hương mới, QN lăn xả vào Mặt Trận Văn Hóa, ra sách, phát hành báo, thành lập Ðài Phát Thanh, lập hội, tổ chức hàng trăm buổi trình diễn ca nhạc, chiếu phim ảnh, tổ chức các giải thưởng. Các thành tích của anh, nếu viết tóm gọn hết ra cũng phải chiếm vài ba trang giấy. Nhưng dù gặt hái được rất nhiều thành quả to lớn, QN vẫn là con người khiêm tốn, bình dị và rất dị ứng với tinh thần cục bộ, đầu óc phe đảng, tự mãn, hay tự tôn. QN viết trong lời Bạt cuốn Quê Hương Nước Mắt, trang 96:
Suốt cuộc đời sinh hoạt văn nghệ, tôi chưa bao giờ có đàn anh hoặc đàn em. Tôi thường sống với cảm xúc của chính mình và bằng hữu. 26 năm lăn lộn trong làng văn, làng báo (1961 – 1987), tôi được chứng kiến đủ cảnh hỉ, nộ, ái, ố. Và tôi rất ghét nạn bè phái, nạn chèn ép giữa những người cầm bút với nhau.
Trong cuốn Người Tình Quê Hương (tr. 16), QN tâm sự với một độc giả, người này khi qua Mỹ trở thành người tình qua-thơ-văn của anh, như sau:
Trong gần ¼ thế kỷ lăn lộn trong các sinh hoạt của các cộng đồng người Việt hải ngoại tại một số tiểu bang Hoa Kỳ, anh đã hiểu được phần nào tại sao người mình có quá nhiều lãnh tụ và người thừa hành thì ít. Bởi lẽ phần lớn quý vị lãnh đạo hội đoàn thường “nói nhiều mà làm ít”. vẫn giữ cái “tôi” quá lớn, và bệnh hoang tưởng đã ăn sâu, bám rễ trong đầu óc họ.
Quốc-Nam đã được những tổ chức như Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Ontario (Canada), Hội Sinh Hoạt Văn Hóa VN Louisiana, Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Ðà Lạt, Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại, Hội Ái Hữu Sinh Viên Học Sinh Di Cư, Hội Phụ Nữ Mê Linh tiểu bang Washington, và Hội Thân Hữu Trường Xuân tiểu bang Washington, vinh danh là Chiến Sĩ Văn Hóa Việt Nam tại Hải Ngoại.
*
Tôi chưa được hân hạnh diện kiến nhà văn kiêm thi sĩ Quốc Nam. Tôi vẫn có chủ trương: không tìm gặp ai nhất là khi người đó lại là một nhân vật nổi tiếng, vì e rằng thân hữu hay thân thuộc nghĩ là tôi muốn “dựa hơi” và tôi để cho cái “duyên lành” đưa đẩy cho các cuộc gặp gỡ.
Thật thế, ngay cả trường hợp đối với nhà học giả nổi tiếng trên văn đàn thế giới – Tiến Sĩ Hương Giang Thái Văn Kiểm (Paris, Pháp); cũng thế, tôi chưa được gặp mặt. Nhưng chính nhờ duyên văn đưa tới, TS. Thái Văn Kiểm đã viết lời “Bạt” trong cuốn thơ Hương Yêu (2000) của tôi. Rồi, cũng do duyên văn dẫn dắt, những nhân vật có tên tuổi như Dr. Nguyễn Văn Bá (Paris), Cựu Chuẩn Tướng Thiết Giáp Trần Quang Khôi (VA), và Cựu Ðại Tá Truyền Tin Bùi Trọng Huỳnh (Nam Cali) đã có bài nhận định trong cuốn Người Việt Nín Lặng (2008) của tôi.
Ðối với Quốc Nam, cũng do duyên văn đưa đẩy: Thanh Mai (nữ giám đốc Ðài Phát Thanh Tiếng Nước Tôi, Arizona) đề nghị tôi phỏng vấn Quốc Nam. Cuộc phỏng vấn diễn ra ngày 3 tháng 11 năm 2007. Từ đó chúng tôi biết nhau và mỗi ngày một hiểu nhau hơn. Thật ra, tuy nói là “duyên” nhưng có lẽ cũng phải do thêm cái gọi là “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” nữa, thì sự giao tiếp mới bền vững và có ý nghĩa.
Lần này, tôi lại có duyên lành được vinh hạnh viết những dòng nhận định về các công trình của anh. Tôi suy nghĩ phải viết cái gì đây? Cuối cùng tôi quyết định chọn viết những cảm nghĩ đầu tiên đến với tôi khi đọc các tác phẩm của Quốc Nam và tìm cách giải đáp những câu tôi tự hỏi về QN như: (1) Tại sao các tác phẩm của QN – đặc biệt là Thơ – được đông đảo độc giả hoan nghênh và động cơ nào thúc đẩy QN lăn xả vào Mặt Trận Văn Hóa? (2) Và, tâm sở nguyện của QN là gì và sẽ đi đến đâu?
Nhà văn/nhà thơ Hải Bằng HDB.
Cảm Nghĩ Ðầu Tiên khi Ðọc các Tác Phẩm của Quốc Nam.
Khi đọc những bài văn hoặc bài thơ cùa QN, cảm nghĩ đàu tiên đến với tôi là những dòng thơ, văn tình tự của QN toàn là những dòng thơ văn khẳng khái nói lên tinh thần truyền thống bất khuất của nòi giống Việt đã có tự ngàn xưa. Chính cái chất khẳng khái ấy đã làm rung động trái tim của đồng bào hải ngoại tha thiết yêu tổ quốc và thương xót đồng bào đang sống quằn quại ở quê nhà.
Tôi cũng cảm thấy hình như tôi đã đọc được ở đâu đó lối hành văn tương tự như của QN, mặc dầu tôi biết QN không hề bắt chước lối viết của một ai. Nhưng lối hành văn giống nhau thì vẫn hẳn nhiên là có, như người giống người vậy. Tôi nhớ ngay tới những bài của những nhà văn, nhà thơ lãng mạn Pháp như Alphonse de Lamartine (Le Lac), Victor Hugo (Océano Nox), và Paul Verlaine (Il Pleure dans Mon Cœur) v.v… ở vào những thế kỷ trước.
Những nhà văn lãng mạn Pháp đó là những nhà văn mà những thế hệ trước đây ai cũng ưa chuộng, vì văn chương của họ: mới mẻ, nhẹ nhàng, trong sáng, lành mạnh, và tạo nhiều rung cảm sâu xa trong tâm hồn người đọc. Những nhà văn, nhà thơ Việt Nam trong đầu thế kỷ 20 như Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Ðạo, Thạch Lam, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư v.v… đã chịu ảnh hưởng lối viết văn của các tác giả người Pháp rất nhiều, và những tác phẩm của những nhà văn Việt tiên phong đó đã là những “khuôn vàng, thước ngọc” cho những thế hệ tiếp nối noi theo.
Vâng, tôi hãy còn nhớ những câu thơ rất nhẹ nhàng và đầy gợi cảm như:
Ainsi toujours poussés vers de nouveaux rivages
Dans la nuit éternelle, emportés sans retour
Ne-pourrons-nous jamais sur l’océan des âges
Jeter l’acre un seul jour?
(Le Lac)
Cứ thế trôi hướng về những bến bờ mới lạ
Trong đêm vô tận, mang đi chẳng trở về
Có thể nào chúng ta sẽ chẳng bao giờ trên biển cả của thời gian
Thả neo dừng lại lấy một ngày?
Và, quả tình tôi cũng cảm thấy những thi vị tình tự nhẹ nhàng và êm ái ấy trong thơ của QN.
Theo tôi, lối viết văn (style) của QN lôi cuốn độc giả ở chỗ lời văn mang nhiều “chất văn chương tự nhiên” bằng những từ ngữ mới lạ, trong sáng, gợi cảm, được dùng đúng lúc và đúng chỗ. Chẳng hạn, những cụm từ mà QN dùng để đặt tên những địa danh như “Thung Lũng Hoa Vàng” cho San Jose, CA; “Cao Nguyên Tình Xanh” cho Seattle, Evergreen State, WA; và “Hồng Hoa Phố” cho Portland (Rose City), OR. Những cụm từ này quả thật đã êm ái đi vào tâm tư tình cảm của hầu hết mọi người, như là một huyền thoại dễ thương.
Cũng thế, QN đã thật khéo léo lựa đúng từ ngữ và đặt đúng chỗ cho những tác phẩm của anh như Tình Ca Lính Alpha Ðỏ (thơ, 1968); Người Vào Cuộc Chiến (thơ, 1969); Ngã Rẽ Một Ðời (truyện ngắn, 1970); Thung Lũng Tội Lỗi (tiểu thuyết, 1971); Quê Hương Nước Mắt (thơ & văn, 1987); Người Tình Quê Hương (thơ, 1999); và v.v… Ðó không phải là những sáo ngữ mà là những từ được chọn lọc tinh tế, tạo nên những hình ảnh thật chuẩn xác đối với nội dung tác phẩm và thực tế của thời đại.
Nhà báo nữ trẻ tuổi và đầy nhiệt tình, Mộng Tuyền ở Arizona (chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Bút Tre) tỏ ra rất thích những cụm từ đặt tên nên thơ đó, và cô đã phỏng vấn QN nhân dịp cô dự 3 ngày Ðại Hội Văn Chương Phụ Nữ VN tại Seattle WA đầu tháng 10/2005. Cô muốn biết lý do nào QN yêu thích việc đặt tên cho các thành phố có người Việt cư ngụ, và thi sĩ QN có dự định đặt tên gì cho thành phố Phoenix, AZ không.
QN cho biết việc đặt tên Thung Lũng Hoa Vàng, Cao Nguyên Tình Xanh, và Hồng Hoa Phố cho ba thành phố San Jose (CA) Seattle (WA), và Porland (OR) chỉ là một sự tình cờ khi QN có dịp ngắm những thảm hoa vàng rực trải dài một sườn đồi ở Cali; cảnh rặng núi Rainier xanh ngắt cao nhất miền Tây Bắc Mỹ Châu (Washington State); và cảnh tuyệt đẹp của thành phố Porland (Oregon) vốn có tên là Rose City – Thành Phố Hoa Hồng.
Ðối với Phoenix, AZ, QN cho biết chưa biết sẽ đặt cho thành phố đó mỹ danh gì. Tuy nhiên, xin chia sẻ ở đây là nhà thơ Ngô Phủ hiện cư ngụ tại Sun City, AZ đã đặt tên thủ phủ Phoenix là Phượng Hoàng Thành và Sun City là Thái Dương Thành.
Thi sĩ QN cho biết anh rất vui mừng khi thấy đồng hương mọi giới chấp nhận và xử dụng ba tên mới đặt kể trên. QN nói với nhà báo Mộng Tuyền:
… Tôi thầm cảm ơn đồng bào vẫn yêu ngôn ngữ VN qua mỹ danh mà tôi gợi nhớ đêm ngày. Nhất là mỹ danh “Thung Lũng Hoa Vàng”, thì tôi vô cùng hãnh diện, vì “Tác Phẩm” này đã kéo theo nhiều tác phẩm văn chương, thi ca, băng nhạc, băng hình, danh xưng, v.v. đều dùng chữ TLHV. Cũng chính nơi này đã là nơi hình thành một giải thưởng ca nhạc kỳ cựu nhất hải ngoại là Giải Thưởng Quốc Tế Tượng Vàng Việt Nam (VN’s International Golden Awards, since 1987).
Gắn bó đậm tình với các mỹ danh đặt cho các địa phương kể trên, thi sĩ QN không quên cấu trúc những bài thơ mang những tựa đề là: “Mùa Xuân trên Thung Lũng Hoa Vàng”, “Thung Lũng Hoa Vàng”, “Cuối Năm Thung Lũng Hoa Vàng”, “Cao Nguyên Tình Xanh”, “Cao Nguyên Tình Xanh Số 2”, “Cao Nguyên Tình Xanh Số 3”, và “Hồng Hoa Phố”.
Xin trích dẫn vài đoạn để thấy: trong những bài thơ – thật là thơ – người chiến sĩ kiêm thi sĩ vẫn luôn luôn ghi nhớ trong tim lý tưởng từng trìu mến tôn thờ:
– Thành phố Hoa Hồng mở hội,
Ðôi ta đi giữa rừng người.
Trùng Dương nào đang réo gọi,
Em yêu, quê cũ, sục sôi.
(Hồng Hoa Phố)
– San Jose, nói lời thương mến,
Ta viết bài thơ tặng bạn hiền.
Mùa lạnh xuôi về nam nắng ấm,
Tìm nhau thung lũng dấu chân em.
(Thung Lũng Hoa Vàng)
– Tôi gọi Cao Nguyên Tây Bắc ơi!
Giữ niềm tin tưởng cho ngày mai.
Ðoàn quân quyết bạt sông và núi,
Em hãy cùng tôi cứu giống nòi.
(Cao Nguyên Tình Xanh)
* Tại Sao Tác Phẩm của Quốc Nam được Nhiệt Liệt Hoan Nghênh, và Ðộng Cơ Nào Khiến QN Lăn Xả vào Mặt Trận Văn Hóa?
Thể Thơ và Thực Chất trong Thi Văn của Quốc Nam
Nhà thơ Quốc Nam dùng nhiều thể thơ, đặc biệt là thể thơ mới bẩy chữ hoặc tám chữ và thể thơ lục bát, để trang trải tâm tình qua đó ông dùng những ngôn ngữ của tình yêu để tình yêu hóa tâm sự của QN đối với quê hương, đất nước, đồng bào, và thân hữu.
Thể thơ lục bát là thể thơ độc đáo của dân tộc ta đã có từ ngàn xưa để kể chuyện. Thơ lục bát vốn có âm điệu du dương, dễ ngâm, và dễ thuộc. QN đã dùng thể thơ này trong một số bài để tâm tình bằng những từ ngữ có tính chất dịu ngọt, mơ mộng, và trau chuốt nên bài thơ có sức truyền cảm sâu xa.
Chẳng hạn bài thơ lục bát “Cao Nguyên Tình Xanh Số 3” trong thi phẩm Người Tình Quê Hương (tr.27) sau đây:
Chào em đôi mắt sáng hồng,
Thơm dòng lệ nhỏ đầu sông cuối hồ.
Tóc bay huyền thoại bây giờ,
Hồn tôi phương đó còn ngờ vực sao.
Cao nguyên thức giấc xôn xao,
Nụ tình xanh mở. Em trao dáng mềm.
Thể thơ mới tám chữ là thể thơ rất thích hợp để chuyên chở những tình cảm sôi động và những hình ảnh nhiều màu sắc. Ðó là thể thơ rất phổ biến vào thập niên 1930 và 40 với những tác giả nổi tiếng như Thế Lữ, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương v.v… Nhà thơ Quốc Nam đã có nhiều bài làm theo thể thơ này như bài: “Hãy Trở Lại Quê Hương Làm Lịch Sử” (trong Quê Hương Nước Mắt, tr.16):
Thức dậy đi, hỡi tim óc biển cả.
Tuổi trẻ ơi, những biểu tượng cuối cùng.
Là niềm tin của dòng giống Tiên Rồng,
Hãy trở lại quê hương làm lịch sử.
Tất nhiên, QN cũng làm thơ mới loại 7 chữ. Ở thể thơ này, một lần nữa người đọc lại thấy phảng phất hương vị dịu ngọt của những dòng thơ quen thuộc của một Nguyễn Bính thời tiền chiến đâu đây khi đọc bài thơ “Áo Dài Quê Hương” (trong Người Tình Quê Hương, tr. 21):
Em ạ! Tôi yêu màu áo tím,
Bóng hình mở sáng một quê hương.
Mốt mai trên nẻo đường vô định,
Tà áo em dài những nhớ thương.
Và, đôi khi ông cũng dùng thể thơ 5 chữ. Thể thơ này gồm những câu ngắn gọn để diễn tả những bức xúc dồn dập, như những câu trong bài “Kẻ Ðào Ngũ của Quê Hương Khổ Ðau” (trong Quê Hương Nước Mắt, tr. 21), qua đó QN đã nói thay cho nhiều người:
Tôi nhục nhã trong tôi,
Kẻ bỏ nước ra đi,
Bỏ anh em ở lại,
Bỏ đồng đội gian nguy.
Xin cho tôi được chết,
Nơi Quê Hương Việt Nam.
Máu chúng tôi sẽ kết,
Trang sử mới huy hoàng,
Trong lòng dân tộc Việt.
Tóm lại, thơ Quốc Nam mang nhiều thể loại, mỗi thể loại có công dụng riêng của nó và nhờ vậy, thơ QN dệt bằng ngôn ngữ của tình yêu quả đã gây nhiều ấn tượng đẹp đối với nhiều độc giả. Ðặc biệt đối với một thuyền nhân tên là Trần Thị Long, bà đã viết từ Philippines cho QN:
Ông làm thơ hay quá! Thưa ông: bấy lâu tôi chỉ hay khóc vì gia đình tan vỡ, chỉ một mình tôi đến được trại tị nạn; nhưng nay đọc thơ ông thì tôi cũng mạnh dạn nói lên ý chí … không còn yếu đuối nữa vì “Ðời còn gì cho một kiếp lưu vong” phải không ông? Và tôi khâm phục những câu:
Bao năm lưu vong xứ người xa lạ,
Con của mẹ cha, đời vẫn trắng tay.
Nhưng trong tim yêu thương vẫn ứa đầy,
Cho dân tộc và Quê Hương nghiệt ngã.
Vui sao được, hàng triệu người giẫy giụa …
*
Tháng 9/2008 vừa qua, tình cờ tôi gặp một người Việt đã đứng tuổi sắp sửa rời khách sạn Travel Lodge ở Santa Ana, CA. Chúng tôi trao đổi vài lời chào nhau. Ông ta cho biết vốn xuất thân quân trường Ðà Lạt (Khóa 20 thì phải), có nghe tên tuổi Quốc Nam, và ông ta nhắc tới tên thi phẩm Tình Ca Lính Alpha Ðỏ (1968) của QN mà ông rất thích.
Tác phẩm của QN được đông đảo độc giả yêu chuộng là thi phẩm Quê Hương Nước Mắt. Chính QN viết trong “Vài Dòng Mở Cửa” (Quê Hương Nước Mắt, in lần thứ 5, 2005) rằng:
Mãi cho tới giây phút này, tôi vẫn không dám khẳng định nguyên do nào đã khiến cho tuyển tập thơ đơn sơ Quê Hương Nước Mắt có thể được in đi in lại đến 5 lần? Cuốn sách này xuất bản lần đầu ngày 2 tháng năm 1987, và lần thứ tư ngày 30 tháng 4 năm 1991. Lần thứ năm được hoàn tất sau ngày miền Nam Việt Nam bị nhuộm Ðỏ đúng 28 năm [2005].
Và rồi QN tâm sự thêm:
Thơ, văn tôi hay dở thế nào … xin để quý độc giả và các nhà phê bình văn học nhận định. Có điều tuyển tập Quê Hương Nước Mắt in lần thứ nhất bán chạy thực sự không có gì khó hiểu. Bởi vì khi sách vừa ra mắt, nhiều vị lảnh đạo tinh thần Phật Giáo, Công Giáo, và Tin Lành Việt Nam đã gởi mua mỗi vị từ một đến hai chục cuốn. Các đại lý khắp nơi đặt mua mấy đợt, đặc biệt chỉ riêng một nhà sách T.H. ở Thủ Ðô Hoa Kỳ lấy lần đầu 50 cuốn. Do đó cuốn sách đã được in lại mấy lần, mà một bạn văn cho là: “Nhờ lòng cảm mến mà mọi giới dành cho tấm tình yêu đất nước của một người cầm bút không ngưng nghỉ như Quốc Nam. Một tập truyện, một tiểu thuyết tái bản nhiều lần nhiều ngàn cuốn vẫn thường xẩy ra, nhưng một tập thơ bán được vài ngàn cuốn là một điều thực họa hiếm.”
Thơ được xuất bản nhiều lần và bán ra cả ngàn cuốn thì tất phải có lý do thật chính đáng. Lý do đó là lý do gì? – Vì thơ của QN rất là hay chăng? Nhà biên khảo lão thành Bác Sĩ Lê Văn Lân (Houston, TX) có lần nói với tôi rằng: “Thơ hay hiếm lắm. Một thi tập thường chỉ có vài bài hay. Nhưng có được một bài hay đã là quý rồi”.
Tôi nghĩ: thơ của QN hay, nhưng không phải vì hay mà bán được tới 5000 cuốn như thế. Chắc chắn phải có một lý do khác chính đáng hơn. Và, lý do đó, theo tôi nghĩ, là trong thơ của QN phải có chứa một cái gì chung cho mọi người, cái mà mọi người ai cũng từng ấp ủ, từng trăn trở mà không có văn chương để bày tỏ.
Cái chung đó là tấm lòng yêu quê hương, thương đồng bào, và ghê tởm chế độ phi nhân đạo của Ðảng Cộng Sản VN. Ðảng Cộng Sản hiện nay đã nắm trọn quyền trong cả nước hơn một phần ba thế kỷ rồi, nhưng họ vẫn không thể nào bỏ được lối đối xử thật thô bạo và những kiểu đàn áp thật tinh vi man dã đối với đồng bào trong nước, bởi vì họ biết rõ đồng bào ai cũng bất mãn chế độ phi nhân này. Quê hương hôm nay đâu còn có là chùm khế ngọt nữa? Quê hương ta đâu còn những bóng mẹ hiền? Khắp quê hương ta hôm nay nhìn vào chỉ thấy những bất công, những đàn áp, những ngục tù, những dối trá, những chủ nhân ông Ðỏ, và những nô lệ da vàng! Tất cả mọi người trong và ngoài nước, kể cả người ngoại quốc và những thế hệ trẻ chưa từng sống trong chế độ CS, đều thấy rõ như vậy.
Một quê hương như thế thì phải gọi là quê hương gì nhỉ cho đúng đắn nhất? Nhà thơ Quốc Nam đã chỉ dùng một từ ngữ thật giản dị phát xuất từ tấm lòng bác ái, từ bi: “Quê Hương Nước Mắt”. Vâng, tất cả quê hương bây giờ, đâu đâu cũng chỉ thấy là nước mắt mà thôi. Người trong nước ứa nước mắt; người ngoài nước chan hòa lệ; ai buồn hơn ai?
Nhà thơ QN đã thể hiện mối thương cảm chung nhất đó của cả một dân tộc bằng thi phẩm Quê Hương Nước Mắt, và điều đó cho phép tôi nghĩ đó là lý do chính đáng nhất để tập thơ được mọi người hoan nghênh đón nhận. Và, chính mối thương cảm chung nhất đó là động cơ thúc đẩy QN lăn xả vào Mặt Trận Văn Hóa để tạo cơ hội cho Mặt Trận Quân Sự, nếu cần trong tương lai, mở ra nhằm triệt tiêu bạo quyền Cộng Sản VN.
Tuy nhiên, cũng nên hiểu thêm rằng nước mắt ở đây là nước mắt nhẫn nhục, nước mắt cảm thông, chứ không phải là những dòng nước mắt van xin. Và, độc giả đón nhận tập thơ QHNM cũng còn vì trong đó, QN vẫn gióng lên những lời kêu gọi tin tưởng vào ngày quê hương chỉ có những nụ cười, vì sẽ không còn bóng ma Cộng Sản trên quê hương nữa. Hãy nghe nhà thơ kêu gọi:
Hãy góp lại những bàn tay sắt đá,
Vạn triệu tâm hồn yêu nước hôm nay.
Lòng kiên cường bất khuất ngút sông dài,
Nung chí lớn, cứu Việt Nam tăm tối.
(QHNM, trang 18)
Rõ ràng những tâm ý ấy không phải chỉ QN mới có. Rất nhiều người khác cũng mang ý chí đó. Chẳng hạn cố thi sĩ Trần Quốc Thái (CA) đã viết trong thi phẩm Bài Thơ Trên Cát của ông (Bút Việt Văn Ðàn, Richmond, VA, 2006).
Cha ơi!
Con sẽ về dựng cờ cho lá cây rừng mở hội
Chặt xích xiềng
Cho toàn dân vùng hỏi tội
Loài Cộng nô quên gốc cội Tiên Rồng
(“Bức Thư Không Gửi”, tr. 152)
*
Nhân nhắc tới nhà thơ Trần Quốc Thái và với trường hợp thi sĩ QN, tôi lại nhớ tới câu văn thi sĩ họ Trần viết: “Hầu hết các đại thi hào dân tộc, điển hình là trong hai thời đại vàng son Lý và Trần, đều là chiến sĩ anh hùng kiêm thi sĩ. Thừa hưởng di thống của tiền nhân, hấp thụ khí thiêng sông núi, con cháu đời này sang đời khác, đều bẩm sinh là chiến sĩ kiêm thi sĩ” (Bài Thơ Trên Cát, tr. 16)
Nhận định của cố thi sĩ Trần Quốc Thái không phải là vô căn cứ. Nhìn lại lịch sử VN trong khoảng 1000 năm đô hộ của Tàu và 100 thống trị của Pháp, chúng ta thấy dân tộc ta đã xuất hiện nhiều vị chiến sĩ anh hùng cứu quốc mà cũng là những thi sĩ yêu nước, thương nòi, cùng với rất nhiều những bài thơ hoặc những câu nói đầy khẳng khái làm xúc động sâu xa tâm tình yêu nước của đồng bào mọi giới. Ðặc biệt trong thời kỳ Pháp khởi sự xâm lấn nước ta và thời kỳ Ðảng Cộng Sản thi hành thi hành chính sách độc đảng toàn trị, những dòng thơ khẳng khái và châm biếm càng xuất hiện nhiều hơn.
Dưới đây tôi muốn chứng minh với Tuổi Trẻ hải ngoại rằng: trong dòng sinh mệnh của lịch sử đấu tranh của nòi giống Việt, những dòng thơ khẳng khái đã nẩy nở đáng kính phục, và hiện nay tiếp tục nẩy nở một cách kiêu hùng nơi hải ngoại ở những con người như Quốc-Nam.
~ * ~
Những DòngThơ Khẳng Khái của các vị Anh Hùng Dân Tộc
Vào thế kỷ thứ 3 sau Công Nguyên, nước ta lệ thuộc Nhà Ngô, Trung Quốc; Bà Triệu Thị Trinh (Thanh Hóa) mà dân gian thường gọi là Triệu Ẩu, đã nói với người anh của bà thường khuyên bà lập gia đình, rằng: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Ðông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng là tì thiếp người ta”.
Lý Thường Kiệt đánh tan quân Tống ngày 18 tháng 1 năm 1077 trên Sông Như Nguyệt, và đã hùng hồn ngâm lên bốn câu thơ đầy hào khí được coi như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong lịch sử nước ta:
Nam quốc sơn hà Nam Ðế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Dịch:
Ðất nước Nam là Vua Nam ngự
Tuyệt nhiên phận định tại Thiên Thư
Cớ sao nghịch tặc qua xâm phạm
Chỉ chuốc vào thân thất bại thôi.
Mùa Xuân năm 1285, danh Tướng Trần Bình Trọng, trước khi đầu bị chém, đã nói như thét vào mặt Thoát Hoan: “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm Vương đất Bắc”.
Mùa Thu năm 1300, Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn, trước khi nhắm mắt, đã nói với vua Trần Anh Tôn những lời khẳng định: “… Giặc Nguyên (Mông Cổ) kéo đến vây bọc bốn mặt, may được vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước đấu sức lại mà đánh …”
Danh Tướng Ðặng Dung ( ? – 1414)) cho đến lúc bạc đầu vẫn còn nuôi chí phục quốc trong bài thơ đầy cảm khái:
Cảm Hoài
Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí thủ hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma.
Nỗi Lòng
Việc lớn chưa xong tuổi đã già
Ðất trời thu gọn tiệc ngâm nga
Gặp thời bần tiện thành công dễ
Lỡ vận anh hùng dạ xót xa
Giúp Chúa muốn xoay vòng đất lại
Rửa binh còn ngại nước trời xa
Bạc đầu chưa trả xong thù nước
Mấy độ mài gươm bóng nguyệt tà.
(Vân Trình dịch)
Mùa Thu năm 1802, Nữ Tướng Bùi Thị Xuân khẳng khái nói với vua Gia Long: “Nếu có một nữ nhi nữa như ta thì nhất định Cửa Nhật Lệ không để lạnh. Nhà ngươi cũng khó đặt chân lên đất Bắc Hà”.
Tháng Tư, 1882, Hoàng Diệu, Tổng Ðốc Thành Hà Nội tự vấn tội trong sớ tâu vua Nhà Nguyễn: “ …Làm tướng bất tài, thần tự nghĩ sống cũng vô ích, dẫu biết rằng thành mất mà chết cũng còn có tội”.
Tháng Tư 1887, dù mới 27 tuổi, Mai Xuân Thưởng kiên cường nói với người Pháp: “Chúng bay nên nhớ, chỉ có đoạn đầu tướng quân chứ không thể có đầu hàng tướng quân”.
Nguyễn Cao đỗ Giải Nguyên năm Ðính Mão, 1867 theo giúp Nguyễn Thiện Thuật ở chiến khu Bãi Sậy. Khi bị bắt, ông tự moi ruột, ngạo nghễ nói với giặc Pháp: “Ruột gan tao đây. Bây xem có khúc nào phản thì bảo”. Dân gian có người khóc Nguyễn Cao với hai câu thơ:
Thệ tâm thiên địa phi trường xích
Thiết sỉ giang san mãn nhiệt hồng.
Nhà cách mạng Phan Bội Châu dịch:
Rút ruột đỏ, phơi tim vũ trụ
Nghiến răng hồng nhai lưỡi non sông.
Ngày 17/4/1864, nho sĩ Hồ Huấn Nghiệp cộng tác với Trương Công Ðịnh, giả làm quan với Pháp để dò thám. Bị tiết lộ, ông bị đưa lên máy chém. Ngày hành quyết, ông nhìn dân chúng đến xem và bình tĩnh đọc mấy câu thơ:
Kiến Nghĩa ninh cam bất dũng vi
Toàn bằng trung hiếu tác nam nhi
Thử thân sinh tử hà tu luận
Duy luyến cao đường bạch phát thùy.
Thấy việc nghĩa phải dũng cảm gánh vác
Phải trọn tình trung hiếu mới là đấng nam nhi
Thân dù sống hay là chết không quan trọng
Chỉ thương nhớ cha mẹ già bạc mái đầu.
Thiên Hộ Võ Duy Dương (một năm sau khi Trương Công Ðịnh mất) trước khi nhắm mắt đã làm mấy câu thơ:
Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên
Yêu gian đảm khí hữu long tuyền
Anh hùng nhược ngộ vô dung địa
Bảo hận thâm cừu bất đái thiên.
Thi sĩ Ðông Hồ dịch:
Theo việc binh nhung thuở trẻ trai
Phong trần hăng hái tuốt gươm dài
Anh hùng gặp phải hồi không đất
Thù hận chang chang chẳng đội trời.
Trước cảnh nhục khi Pháp chiếm mất ba tỉnh Tây, Thủ Khoa Huân (thời Tự Ðức) chiêu tập nghĩa binh chống Pháp. Ông bị Pháp bắt và chém đầu ở chợ. Ông ung dung làm bài thơ:
Hạn mã gian quan vị quốc cừu
Chỉ nhân binh bại trí thân hưu
Anh hùng mậc bả dinh du luận
Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu
Vô bố dĩ kinh hồ lỗ phách
Bất hàng cam đoạn tướng quân đầu
Ðương niên Tho Thủy lưu ba huyết
Long Ðảo thu phong khởi mộ sầu.
Sào Nam Phan Bội Châu dịch:
Ruổi rong vó ngựa báo thù chung
Binh bại cho nên mạng mới cùng
Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ
Hơn thua sá kể với anh hùng
Nổi sung mất vía quân hồ lỗ
Quyết thác không hàng rạng núi sông
Tho Thủy ngày rày pha máu đỏ
Ðảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong.
Sau khi vua Hàm Nghi bị bắt năm 1885, Tống Duy Tân tiếp tục lãnh đạo Ðảng Cần Vương ở Thanh Hóa. Ông cùng với Ðinh Công Tráng lập chiến khu Ba Ðình. Bị tên học trò cũ Cao Ngọc Lễ bội phản, ông bị Pháp bắt và xử chém vào tháng Chín 1892 tại Thanh Hóa. Ông làm hai câu thơ khẩu chiếm:
Chí kim chỉ liễu trần sinh trái
Tự cổ do truyền bất tử danh.
Lam Giang dịch:
Giờ còn vướng nợ tiền sanh
Ngàn xưa bất tử oai danh còn truyền.
Phan Ðình Phùng (1847- 1895) tiếp tục sự nghiệp chống Pháp. Trước khi mất, cụ Phan làm bài thơ:
Nhung trường thụng mạnh thập canh đông
Võ lược y nhiên vị tấu công
Cùng hộ ngao thiên nan trạch nhạn
Phỉ đồ biến địa thương đồn phong
Cửu trung xa giá quan san ngoại
Tứ hải nhân dân thủy hỏa trung
Trách vọng dũ long ưu dũ đại
Tướng môn thâm tự quý anh hùng.
Lãng Nhân dịch:
Nhung trường vâng mạng đã mười đông
Ðánh dẹp dây dưa chửa tấu công
Dân khổ kêu trời vang ổ nhạn
Quan gian dậy đất rộn đàn ong
Chín trùng lận đận miền quan tái
Trăm họ lầm than đám lửa hồng
Trách vọng càng nhiều càng cố gắng
Tướng môn riêng thẹn tiếng anh hùng.
Phan Bội Châu (1867- 1940, Nghệ Tĩnh), người sáng lập ra Hội Duy Tân năm 1904; tôn Kỳ Ngoại Hầu Cương Ðể là minh chủ, chủ trương bạo động; sang Nhật năm 1905 xin ngoại viện và sáng lập phong trào Ðông Du. Cụ đã viết sách, báo, ngoại du, và làm tất cả mọi việc trong mục đích cứu nước, giúp dân. Cụ làm hai bài thơ “Sống” và “Chết” để tỏ ý chí can trường:
Sống tủi làm chi đứng chật trời?
Sống nhìn thế giới hổ chăng ai?
Sống làm nô lệ cho người khiến
Sống chịu ngu si để chúng cười
Sống tưởng công danh, không tưởng nước
Sống lo phú quý, chẳng lo đời
Sống mà như thế, đừng nên sống
Sống tủi làm chi đứng chật trời.
Chết mà vì nước, chết vì dân
Chết đấng nam nhi trả nợ trần
Chết buổi Ðông Chu, hồn thất quốc
Chết như Tây Hán lúc tam phân
Chết như Hưng Ðạo hồn thành Thánh
Chết tựa Trưng Vương phách hóa Thần
Chết cụ Tây Hồ, danh chẳng chết
Chết mà vì nước, chết vì dân.
Hoàng Trọng Mậu trước khi bị Pháp xử bắn vào năm 1915 vẫn ngạo nghễ mấy vần thơ:
Ái quốc hà cô, duy hữu tinh thần chung bất tử
Xuất sư vị tiệp, khả tương tâm sự thác lai sinh
Yêu nước tội gì, chỉ có tinh thần là còn mãi
Ra quân chưa được, nguyện đem tâm sự gởi đời sau.
Trần Hữu Lực đúng giữa pháp trường gióng lên đôi câu đối khẳng khái:
Giang sơn dĩ tử, ngã yên đắc du sinh? Thập dư niên luyện kiếm ma đao; tráng chí bản phù Hồng Tổ Quốc
Vũ dực vị thành, dĩ tiên vi thủ bại. Tại cửu tiền điều binh khiển tướng, âm hồn ám trợ Thiếu Niên Quân.
Dịch:
Giang san đã chết, ta sống thừa sao. Hơn mười năm luyện kiếm, mài đao, chí khí những mong phù nước Tổ
Lông cánh chưa thành, đã bị thất bại. Sống ở nơi chín suối, quyết điều binh khiển tướng giúp Thiếu Niên Vua.
Trần Cao Vân và Thái Phiên, hai yếu nhân của Việt Nam Phục Quốc Hội, bí mật đưa vua Duy Tân ra khỏi Hoàng Cung thì bị bắt. Ngày 17 tháng 5 năm 1916, Pháp đem xử chém hai ông ở xã An Hòa. Trần Cao Vân đã để lại những vần thơ khẳng khái sau cho hậu thế:
Ta Không Sợ Chết
Ðứa nào muốn chết, chết như chơi
Chết vị non sông, chết vị trời
Chết thảo, bao nài xương thịt nát
Chết ngay, há quản cổ đầu rơi
Chết trung, tiếng để ngoài muôn dặm
Chết nghĩa lưu danh đến vạn đời
Chết được như vầy là hả dạ
Ta không sợ chết, hỡi ai ơi!
Nguyễn Thụy ở Quảng Ngãi cũng thuộc nhóm VN Phục Quốc Hội cũng bị có quân phản trắc tố giác với Pháp. Pháp bắt mẹ ông và đòi ông ra đầu thú. Ông về nạp mạng để chuộc mẹ nhưng không hàng giặc. Ông thản nhiên nhìn đao phủ và ngâm mấy câu thơ cũng chung ý với thơ của Trần Cao Vân:
Chết ta không sợ, chết như chơi
Chết đặng danh thơm tiếng để đời
Chết hiếu không nài xương thịt nát
Chết trung nào ngại cổ đầu rơi.
Nguyễn Thái Học năm 1930 cùng với 12 đống chí hiên ngang lên máy chém. Ông sang sảng ngâm bốn câu thơ:
Chết vì tổ quốc
Cái chết vinh quang
Lòng ta sung sướng
Trí ta nhẹ nhàng.
Tháng Hai 1930, Nguyễn Khắc Nhu bị Pháp bắt. Ông khẳng khái nói: “Tôi là người dân Việt Nam có bổn phận phải bảo vệ đất nước VN. Ðó là việc hợp với lẽ phải và nhân đạo. Sao lại bảo là làm loạn?”
Tháng 6 năm 1930, Nguyễn Thị Giang, người yêu của N.Thái Học, dùng súng lục tự vẫn, để lại những dòng văn khẳng khái: “Phải chịu nhục nhã mới có ngày mong được vẻ vang. Các bạn đồng chí phải sống để đánh đổ cường quyền mà cứu lấy đồng bào đau khổ”.
Phó Ðức Chính yêu cầu giắc Pháp cho nằm ngửa nhìn máy chém và hét to: “VN muôn năm”.
Nguyễn Hữu Thanh tức Thái Dịch Lý Ðông A (1920 – ?) nguyên là Ðảng Trưởng Duy Dân Ðảng. Ông đã viết nhiều sách như Huyết Hoa và Ðạo Trường Ngâm vào đầu thập niên 1940. Trong bài thơ “Ðồng Lầy” , Lý Ðông A đã nói lên sự thất vọng đối với cái gọi là Cách Mạng Mùa Thu Tháng Tám trong đó hàng triệu người đã bị Việt Minh tức Cộng Sản lật lọng:
Ngày ấy tuy xa mà như còn đấy
Tuổi hai mươi bước vào đời
Nhưng rồi một sớm đầu thu trở lại
Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại
Ngỡ cờ sao rực rỡ
Tô thắm màu xứ sở yêu thương
Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường
Hung bạo phá bờ kim cổ
Lá cờ lật lọng
Nhân buổi dương tàn, âm thịnh, cao bay.
Và nhà chiến sĩ kiêm thi sĩ Lý Ðông A cũng nói lên sự chờ đợi chung của mọi người:
Biết bao giờ mùa thu lật lọng
Bị lôi lên dàn lửa trời hè?
Tôi vẫn chờ muôn vạn tiếng ve
Dạo khúc tưng bừng báo trước
Mùa hè khắp nơi đang tiến bước
Tiêu diệt thu đông
Lấy lại sắc hồng
Phá cũi, sổ lồng cho đàn chim bất hạnh.
*
Ðức Huỳnh Phú Sổ (1919- 1947, Châu Ðốc), Giáo Chủ Ðạo Hòa Hảo, mất tích kể từ ngày 16 tháng 4 năm 1947 tại Ðốc Vàng, Ðồng Tháp, nhưng chắc chắn là đã bị Việt Minh thủ tiêu.
Trước hiện tượng bành trướng lối sống cá nhân chủ nghĩa của văn hóa Âu Mỹ đang làm cho trai gái coi nhẹ tình yêu tổ quốc, đất nước và quê hương, Ngài sử dụng uy tín của Ngài khẳng định rằng ở nơi Ngài chỉ có một tình yêu duy nhất là tình yêu chúng sinh, tình yêu nhân loại và trên cơ sở tình yêu này, nhân loại sẽ có thể sống chung hòa hạnh phúc với nhau. Còn tình yêu cá nhân ích kỷ có thể dẫn tới tinh thần vị kỷ thái quá qua thái độ “cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại” và thái độ đó làm giảm giá trị gắn bó (involvement value) trong một xã hội tiến bộ.
Ta có tình yêu rất đượm nồng
Yêu người, yêu lẫn cả non sông
Tình yêu chan chứa trên hoàn vũ
Không thể yêu riêng khách má hồng.
Khách má hồng mà muốn được yêu
Thì trong tâm trí hãy xoay chiều
Hướng về phụng sự cho nhân loại
Sẽ gặp tình ta trong khối yêu.
Ta đã đa mang một khối tình
Dường như thệ hải với minh sơn
Tình yêu mà chẳng riêng ai cả
Yêu khắp muôn loài lẫn chúng sinh.
*
Tại Miền Bắc VN, các trí thức đã chính thức nổi dậy chống Ðảng vào Mùa Xuân 1956 với Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm gồm 21 nhân vật tiêu biểu và do Phan Khôi lãnh Ðạo. Sau năm 1975, nhóm nhà văn, nhà thơ, nhà báo, luật sư, bác sĩ, v.v. trong nước đã mạnh dạn nổi lên trực diện đối đầu với Ðảng và nhà nước CS. Cuộc đấu tranh của họ xuất phát từ tấm lòng yêu nước chân chính và thương đồng bào coi như ruột thịt của mình. Và sau đây là một số dòng thơ tiêu biểu trong số hàng ngàn vạn dòng cảm khái vang lên ở trong nước:
Một Trần Thị Thanh Thủy cũng nhìn nhận quê hương chỉ toàn là nước mắt:
Giang san chan chứa đôi hàng lệ
Mình vẫn cô đơn giữa đỉnh trời.
(Xem: Viết Từ Hang Ðá, tr. 81)
Và, Trần Thị Thanh Thủy với những dòng thơ rực lửa và cũng đầy nước mắt căm phẫn:
Ðất nước đẹp thế này sao tôi phải quay lưng?
Cho tôi làm cây súng bắn lên đầu bọn chúng
Khi màu mỡ, vàng, đô la chúng chiếm
Bao năm rồi đất nước chỉ nghèo thêm
(Viết Từ Hang Ðá, tr.40)
Việt Nam đất nước ta ơi
Ðau thương nhục nhã, đâu trời khổ hơn?
Cánh cò bay lả ngậm hờn
Mây mù che mất đàn con đói dài
Quê hương đâu có tương lai
Bao nhiêu đời vẫn quằn quài khổ đau …
(VTHÐ, tr.32)
Và, Thanh Thủy như muốn để lại lời di chúc vì nghĩ rằng có thể chết bất cứ lúc nào trong sự nghiệp đấu tranh:
Nếu rôi chết, xin ghi lên huyệt mộ
Rắng: “Ðây là người yêu nước, thương dân”
Vâng, lòng yêu nước, thương nòi quả có thể trở thành một tâm bệnh trong nhiều người và tâm bịnh ấy sẽ không có thuốc nào trị khỏi trừ khi thấy tâm ý nguyện của mình thành tựu. Một nhà đấu tranh đã khẳng định:
Vô dược khả y ưu quốc bịnh
Hữu quan nan trở mộng gia hồi
Dịch:
Không thuốc nào chữa khỏi bịnh yêu nước,
Khó cửa quan nào ngăn trở mộng hồi hương.

Thi sĩ Quốc-Nam ngỏ lời trước anh chị em văn nghệ sĩ & truyền thông báo chí trong buổi họp mặt đầu năm Mậu Tý (2008) tại Seattle. Photo by My Lương.
Riêng đối với trường hợp Quốc Nam, nhà chiến sĩ cầm súng và cầm bút Quốc Nam đã làm không phải chỉ là vài dòng thơ, mà là cả hàng trăm dòng thơ khẳng khái. Những dòng thơ này về âm điệu khác với hầu hết những dòng thơ khẳng khái cổ điển vừa nêu ở trên. Những dòng thơ khẳng khái của QN đã được tình tự hóa – nghĩa là đã lấy ngôn ngữ của tình yêu lứa đôi mà kể lể – nhờ đó, QN đã có thể viết như không bao giờ hết và viết với bất cứ lúc nào vì, như mọi người đã yêu đều biết, viết cho một người tình, thì viết đến bao giờ cho hết?
Với trăn trở về một quê hương đầy nước mắt, cuộc sống thực tế của Quốc Nam thật gắn bó với quê hương. Và, một lần nữa, từ trong trái tim đầy thương yêu, QN tự coi mình là Tình Quân của Quê Hương Việt Nam (coi: Người Tình Quê Hương, tr.19). Vâng, QN đã coi quê hương như là một người tình, một người yêu suốt đời của anh, cho nên năm 1999, QN cho ra đời thi tập Người Tình Quê Hương (NTQH). Với quê hương là một người tình, QN sẽ có không biết bao nhiêu điều để mà nói, nói không bao giờ hết, nói cho mình và cũng là cho nhiều người khác. Tác phẩm đó cũng được đông đảo đồng hương đón nhận.
Trong bài “Thư Gửi Người Tình Quê Hương thay Lời Mở Ðầu”, QN đề cập tới một nhân vật nữ Miền Nam đã tiết lộ cho QN biết là nàng yêu những dòng thơ lãng mạn mà đầy tình tự quê hương, dân tộc của QN qua chương trình thi ca “Mây Tần” của Ðài Phát Thanh Saigòn từ lúc nàng mới 16 tuổi, và ước ao có dịp gặp mặt tác giả.
Hai người đã tình cờ gặp nhau ở Mỹ và trở thành đôi tri âm, tri kỷ về thơ, văn. Chuyện những nhà thi sĩ (hay nhà văn hoặc nhạc sĩ) có người tình xưa nay không thiếu. Thi sĩ Hàn Mạc Tử có một Mộng Cầm. Thi hào Nguyễn Du có một Hồ Xuân Hương. Nhà thơ Hữu Loan của “Màu Tím Hoa Sim” có một nàng Thanh, (nguyên là người vợ bị ruồng rẫy của nhà thơ nô tài Tố Hữu) v.v. Tuy nhiên, với QN, người tình qua thơ văn đó – dù đã cho QN nhiều cảm giác tuyệt vời – vẫn không thể chiếm trọn trái tim của QN vì định mệnh: trái tim của QN đã thực sự thuộc về quê hương, quê hương Việt Nam yêu dấu của chung chúng ta nay đang tàn tạ … QN viết cho người tình-qua-thơ-văn ấy:
Sau khi đôi ta chia tay xa nhau, anh đã lao mình vào những sinh hoạt văn hóa và cộng đồng. Anh làm việc bất kể ngày đêm, mỗi ngày tối thiểu 12 tiếng đồng hồ và 7 ngày mỗi tuần. Em biết tại sao không? Trước hết là tìm quên, để anh không còn thời giờ nghĩ nhớ tới em, người thiếu phụ có giọng nói ngọt ngào Miền Nam với chiếc áo dài màu tím hoa sim mang hình ảnh quê hương dấu yêu mà anh đã thầm gọi là ‘Người Tình Quê Hương’. Ðồng thời, anh còn thiếu một món nợ ân nghĩa phải đền trả đối với đồng bào của đôi ta còn sống cơ cực tại quê nhà dưới chế đô hà khắc của Ðảng Cộng Sản VN, nên anh cần vận dụng mọi phương tiện có thể để nói lên những ước vọng bình thường của đồng bào trong nước đối với Thế Giới Tự Do. Bởi vì khi còn là một người chiến sĩ xông pha ngoài chiến địa, một lần anh bị thương mất gần hết máu trong người. May nhờ những lượng máu của một số đồng bào vô danh bơm đủ vào thân thể anh nên đã cứu mạng sống của anh đến ngày hôm nay. Như vậy, số lượng máu hiện luân lưu trong châu thân anh gồm một nửa của mẹ cha và một nửa của đồng bào góp lại. Do đó, anh có bổn phận giữ trọn hiếu với cha mẹ và sống trọn nghĩa với đồng bào ruột thịt. (NTQH, tr. 16)
*
Tâm Sở Nguyện của Quốc Nam là Gì và sẽ Ði Ðến Ðâu?
Những tác phẩm và những hoạt động văn hóa cộng đồng không mệt mỏi của Quốc Nam đã phát xuất từ tâm sở nguyện của Quốc Nam, đó là: giải thể Ðảng Cộng Sản VN và xây dựng lại đất nước thành một nước tự do, dân chủ, và tiến bộ đặt trên căn bản tôn trọng pháp luật và sự bình đẳng giữa người và người.
QN viết trong Quê Hương Nước Mắt:
Qua cuốn sách nhỏ bé này [Quê Hương Nước Mắt], tôi cũng muốn gởi tới thế hệ tam thập và tuổi trẻ Việt Nam đầy năng lực: Hãy dấn thân nhận lãnh vai trò ‘trở lại quê hương làm lịch sử’. Thế hệ chúng tôi xin làm những viên gạch lót đường cho thế hệ các bạn tiến lên xoay vần bánh xe lịch sử để một mai ‘quê hương nước mắt’ sẽ trở thành ‘quê hương tự do, dân chủ rợp bóng ‘Cờ Vàng’. [tr. 13]
Và, trong hầu hết những bài thơ của QN luôn luôn toát lên tâm sở nguyện đó. Chẳng hạn:
Ta, tuổi trẻ, một lời nguyền trở lại,
Ôm đất quê hương nước mắt đã tràn.
Nhìn Việt Nam rồi gục chết cũng đành,
Trời phải sáng cho dân ta hạnh phúc.
(“Hãy Trở Lại Quê Hương Làm Lịch Sử”, tr. 18)
Hỡi Việt Nam, hãy chờ ngày giải phóng,
Trường Sơn ơi, hãy chặn bước quân thù.
Cờ Tự Do tung bay ngày đại thắng.
Tuổi trẻ Việt, thưa cha, sẽ dựng cờ.
Máu chúng con quyết xoay vần lịch sử.
(“Nói Với Cha”, tr. 48)
Trong bài “Vĩnh Biệt Mẹ Cha” (Quê Hương Nước Mắt, tr.55), ông cho biết cha từng là một cấp chỉ huy trong Nhóm Lãnh Ðạo Làng Kháng Chiến chống Cộng ở Thủy Nhai, Xuân Trường và gia đình vượt biển vào Nam năm 1954. Và, ông đã thầm nguyện trước linh cữu của cha tại nhà quàn:
Con thương Cha già một đời tiễn biệt,
Hai lần di cư can đảm lên đường.
Con theo Cha từ buổi vượt trùng dương,
Tìm đất hứa: Miền Nam ta trù mật.
Gia tài Cha là hào quang bất khuất,
Như Cha anh hùng diệt lũ Cộng quân.
Giờ Mẹ Cha đã nằm yên vĩnh viễn,
Xin cho lời nguyền sớm tối ủi an:
“Con phải đưa Mẹ Cha về xóm làng,
Ðể hồn linh gặp lại ông bà Tiên Tổ”.
Lạy Thượng Ðế, con muôn năm sầu khổ,
Xin cho tựu thành ước nguyện hôm nay.
(White Center Funeral Home, Seattle,
ngày 18 tháng 5 năm 1983)
Từ tâm sở nguyện này phát sinh ra trăm, ngàn mối trăn trở đối với quê hương còn tăm tối khiến cho nhà chiến sĩ kiêm thi sĩ QN nhiều lúc quên cả cuộc sống của chính gia đình mình để lăn xả vào với người tình xã hội, người tình cộng đồng trong đó QN đã gặp vừa những người đồng điệu thanh tao vừa những kẻ lạc điệu ma giáo; vừa được vui hưởng những phút giây hạnh phúc vừa phải chịu đựng những điều cay đắng buồn nôn. Nhưng liệu tâm sở nguyện của QN đến bao giờ mới biến thành sự thật?
Tâm sở nguyện của QN và cũng là của tuyệt đại đa số đồng bào VN trong và ngoài nước chắc chắn sẽ thành sự thật, bởi vì đó cũng là một mục tiêu của Hoa Kỳ nhằm chống chủ nghĩa bá quyền của Trung Cộng ở Ðông Nam Á. Tất cả chỉ còn là vấn đề thời gian.
Kết Luận
Trong suốt nhiều năm qua, Quốc-Nam đã chứng tỏ cho mọi người thấy rằng anh không bao giờ nản lòng. Anh đã ngã gục ít nhất một lần trên chiến trường, nhưng đợc Thượng Đế và đồng bào vực dậy thì nay anh không còn có gì phải sợ ngã gục nữa. Anh đã ngừng chiến đấu trên chiến trường (mặc dầu nếu tình thế cần tới, anh và còn nhiều người nữa sẵn sàng cầm súng trở lại chiến đấu trong trận chiến cuối cùng nhằm triệt tiêu chế độ CS tại VN), nhưng QN đang tiếp tục chiến đấu trên Mặt Trận Văn Hóa trong mục đích:
Văn-Hóa Hóa Sự-Nghiệp & Sự-Nghiệp Hóa Văn-Hóa
Hiện nay, văn hóa là một mặt trận mà Hoa Kỳ tuyên bố đó là một thành phần của Cuộc Chiến Mới (The New War) nhằm chống lại nguồn gốc chính của hiểm họa chiến tranh khủng bố đến từ phe Hồi Giáo quá khích ở Trung Ðông kể từ đầu năm 2000 và nguồn gốc đó chính là sự ngu tối. Tổng Thống George W. Bush nói trước Lưỡng Viện Quốc Hội HK ngày 20 tháng 9 năm 2001 rằng: “Cái mà chúng ta tham gia ở đây là điều rất khác với Cuộc Thế Chiến II, Triều Tiên, Việt Nam, Vùng Vịnh, Kosovo, hay Bosina … Chiến đấu chống khủng bố có thể sẽ lâu dài và tới mức độ chưa từng thấy. …”
Nếu con người được thông tin đầy đủ và trình độ nhận thức từ đó được nâng cao, thì hiểm họa chiến tranh có thể tránh được. HK hiện đang vận dụng sách lược mới này đối với Cộng Sản VN để tạo những biến đổi từ nơi lớp lãnh đạo Ðảng CSVN. Trong những năm qua đã có một số biến chuyển thuận lợi cho nỗ lực giải thể Ðảng CSVN. Ðó là nhiều chuyến công du con thoi của các lãnh đạo cao cấp của VN và nhiều chương trình hợp tác quan trọng đã được ký kết.
Tuy nhiên cũng cần có nhận thức mới rằng: trong Cuộc Chiến Mới này, HK sẽ không đơn phương nhúng tay giải quyết tranh chấp như trước đây (trừ bất khả kháng) mà HK sẽ để người trong cuộc phải đích thân đứng ra thiết tha yêu cầu và phải chứng tỏ sự thiết tha yêu cầu ấy bằng những hy sinh đáng kể. Chính vì thế mà HK bấy lâu cứ làm như là lờ đi những đàn áp của nhà cầm quyền VN, với mục đích là chờ xem những nhóm người bị đàn áp phải hành động thế nào cho người Mỹ và cho thế giới thấy họ cần phải được giúp đỡ.
CSVN cũng biết những ngón đòn đó nên họ tuyệt đối tránh đổ máu trong các cuộc xuống đường bằng những ve vuốt, hứa hẹn, nhượng bộ, cốt để nhóm chống đối nản lòng. Và rồi CS lại tiếp tục đàn áp và phá hoại ngầm các tổ chức chống đối. Bởi vậy, nói tới hòa giải hay hòa hợp với CSVN là mắc mưu chúng.
Phải nhìn nhận rằng nếu có máu đổ thì sự thay đổi chính trị tại VN mới sớm xẩy ra. Tâm sở nguyện của QN nói riêng và của đồng bào trong / ngoài nước nói chung, mới có thể gia tốc trở thành sự thật, mặc dầu đổ máu là điều ít ai muốn. Nhà cách mạng tiền bối Thái Dịch Lý Ðông A tên thật là Nguyễn Hữu Thanh (1920- ) bày tỏ nhận định trong cuốn Huyết Hoa (1942) và bài Thơ “Ðồng Lầy” như sau:
Nếu chúng ta đồng tâm tất cả
Lấy máu đào tươi thắm tưới cho hoa
Máu ươm hoa
Hoa, máu chan hòa
Hoa sẽ nở
Muôn nhà, muôn vạn đóa
Hoa Hạnh Phúc Tự Do vô giá
Máu hờn căm phun đẵm mới đâm bông!” (b)
(b) Trích trong bài thơ “Ðồng Lầy” dài 500 câu của XY Thái Dịch Lý Ðông A. Chú ý : Ðồng Lầy là mã tự (code) của Lý Ðông A. Tách 7 mẫu tự Ð-O-N-G L-A-Y trong hai chữ Ðồng Lầy ra và ghép lại thành ba chữ, sẽ ra: Ly Ðong A.
Liệu QN có còn muốn sẵn sàng đổ máu cho quê hương nữa không? Chắc chắn là có! Quốc Nam cũng như nhiều vị cựu chiến sĩ lão nhiêu khác một lần nữa vẫn sẵn sàng nhận cái chết cho quê hương để viết lại lịch sử. Xin hãy lắng nghe QN hô to lời tâm huyết:
Xin cho tôi được chết!
Nơi quê hương Việt Nam
Máu chúng tôi sẽ viết
Trang sử mới oai hùng
Trong lòng dân tộc Việt.
(QHNM,tr. 23)
Tóm kết lại, bên cạnh những công trình văn hóa có tính cách nâng cao giá trị của nòi giống Lạc Hồng, hai tập thơ Quê Hương Nước Mắt và Người Tình Quê Hương cùa Quốc Nam đúng là những bản tình thơ muôn điệu nói lên những trăn trở của thời đại với hàng triệu trái tim yêu nước ở hải ngoại đang hướng về quê hương chờ một sự đột biến chính trị biến quê hương nước mắt thành quê hương của những nụ cười. Nếu tất cả mọi người trong và ngoài nước thiết tha mong muốn như vậy và chấp nhận hy sinh, thì điều mơ ước ấy sẽ phải trở thành sự thật mà thôi.
Quốc Nam là một trong những ngôi sao sáng trên vòm trời Văn Hóa Việt, trong đó cũng có các nhà khoa học Dương Nguyệt Ánh, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, nữ phi công Elizabeth Phạm; các nhà sản xuất ca nhạc Trúc Hồ (Asia), Vân Sơn v.v… Bên cạnh những nhân vật đó tưởng cũng nên biết là còn có nhiều nhân vật hoạt động cho Mặt Trận Văn Hóa một cách thầm lặng. Tất cả đã phóng ra một tín hiệu rất thuyết phục: họ là thế hệ tiên phong mở đường cho sứ mạng đem Ánh Sáng của Văn Hóa soi rọi những nơi còn u tối bởi thiếu văn hóa. Sự nghiệp của họ đã và đang làm phát huy đạo lý “Nhân Nghĩa” đặc thù của nòi giống Việt vốn tàng trữ trong chủng tử RTV của Lạc Long Quân và Tiên Âu Cơ, hai vị Tổ của dân tộc Việt chúng ta.
Hải Bằng HDB
(Tháng 10/2008)
* Năm 1954, Quốc-Nam được 10 tuổi theo cha mẹ vượt vào Nam; năm 1975: theo con tầu định mệnh “Trường Xuân” vượt thoát tới Hồng Kông.
Sơ Lược Tiểu Sử nhà văn/nhà thơ Hải Bằng HDB
Họ & tên: Bình D. Hoàng. Sinh năm 1936 tại Thị xã Thái Bình, VN. Bút hiệu: William Hoàng; Hải Bằng.HDB; Hoàng Long.
Tốt nghiệp Lehigh Carbon Community College (Criminal Justice Administration), PA và Ðại Học Luật Khoa Saigòn.
Nguyên Hiệu Trưởng Trung Học Phú Nổ, Sóc Trăng (thành lập bởi Qũy Phụ Huynh Học Sinh). Giáo sư Trung Học Cần Giuộc, Long An.
Chủ biên Chương Trình Bạn Có Biết, Ðài Vô Tuyến Truyền Hình, Saigòn.
Chủ biên Chương Trình Văn Hóa & Văn Học Người Việt Hải Ngoại/Ðài Tiếng Nước Tôi, Arizona.
Tốt nghiệp Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức Khóa 14; phục vụ tại: Quân Ðoàn 4/ Phòng 6; Bộ Tổng Tham Mưu/P6/TTÐHVL; Cơ Quan Nghiên Cứu Hỗn Hợp Việt Mỹ (Combined Telecommunications Engineering Agency, CTEA); Huy Chương Tưởng Lục của Lục Quân HK.
Qua HK năm 1992 (diện H.O). Ðịnh cư tại Allentown, PA. Làm việc: Thư Viện, Allentown và Mangar Medical Packaging Company.
Sáng lập viên Hội Người Việt Tương Trợ, Lehigh County, PA.
Cộng tác thiện nguyện cho cơ quan USCC, Allentown.
Chủ nhiệm kiêm chủ bút Ðặc San Vùng Lên.
Hội viên Hội International Society of Poets, Maryland.
Cộng tác với các báo: Tạp Chí Phương Ðông (MA); Ðại Chúng (MD); Cỏ Thơm (MD); Philadelphia Asia News (PA); Sóng Thần (VA); Bút Tre (AZ); Một Phần Tư Thế Kỷ Thi Ca của Võ Ðức Trung (Paris); Phụ Nữ Thời Nay Hải Ngoại (CA).
Ðã xuất bản Hương Yêu (Thơ, 2002), Vương Miện Tuổi Tình Yêu (Thơ, 2005); và Người Việt Nín Lặng (Biên Khảo, 2008).
Sẽ xuất bản: Lược Khảo Văn Hóa và Văn Học Việt Mỹ.
Websites: www.buthoa.com
www.cothommagazine.com
www.vietbang.com