VÀI TẬP TỤC CỔ TRUYỀN VỀ BA NGÀY TẾT * Ba nhân vật PHÚC – LỘC – THỌ là Ai?
* Bạch Cúc.NTN & Hải Bằng.HDB
*
Ý Nghĩa Ba Ngày Tết
Lễ Tết cổ truyền của người Việt thường kéo dài một hay hai tuần trong đó có 3 ngày chính với những tập quán nên bảo tồn. Ðó là câu: “Mồng Một nhà cha. Mồng Hai nhà Mẹ. Mồng Ba nhà Thầy.”
Ngày Mồng Một là ngày đại gia đình tập họp để làm Lễ Cúng Gia Tiên và Lễ Chúc Thọ: cả nhà thức dậy sớm; ăn mặc chỉnh tề; sau khi toàn gia làm Lễ Gia Tiên và ông bà hay cha mẹ đã an vị ngồi uống trà, ăn trầu thì các con cháu lần lượt tới làm Lễ Chúc Thọ (2 lạy, một vái) và nhận Tiền Mừng Tuổi (lì xì để vui chơi, đánh bài).
Ngày Mồng Hai là ngày đi Lễ Tổ Bên Ngoại và đi chúc Tết bà con họ h àng, hay Nhạc Gia (gia đình vợ).
Ngày Mồng Ba là ngày dành đi Chúc Tết Thầy Cô và bạn hữu.
Vài Tập Tục chung quang Ba Ngày Tết
Tân Trang Nhà Cửa: mọi nhà thường quét vôi, sơn phết lại cửa nhà, lau chùi bàn thờ để đón Gia Tiên và được hên trong năm mới. Mua sắm Câu Ðối và Hoa Quả để trang hoàng.
Ở làng quê, người ta trồng Cây Nêu thường là cây tre có treo các lục lặc (khánh) để đuổi tà ma khỏi tới phá phách.
Thanh Toán Nợ Nần: Tất cả mọi nợ nần phải lo dàn xếp thanh toán hầu năm mới được an vui.
Biếu Xén: đó là các món Quà Tết mà con cháu, học trò, và nhân viên thuộc cấp thường đem đến tận nhà biếu xén để tỏ lòng Hiếu Thảo và Tôn Kính.
Tiễn Ðưa Táo Quân: Ngày 23 tháng Chạp, tức trước Tết một tuần, là ngày cúng tiễn đưa Táo Quân (Vua Bếp) về chầu Thiên Ðình để tấu trình mọi sự việc xẩy ra trong gia đình của gia chủ.
Người ta thường cúng bằng một con cá chép coi như là phương tiện cho Táo Quân về Trời. Tục này nhằm dạy mọi người trong một gia đình ráng ăn hiền, ở lành, gìn giữ lời ăn tiếng nói đừng để bị thần Táo ghi sổ có tội với Thiên Ðình. Sớ Táo Quân thường làm với hình thức bài thơ bốn chữ. Chẳng hạn:
Thần tên là Táo
Mũ áo lên chầu
Mọi việc xin tâu
Mong Hoàng Đế xét.

Nấu Bánh Chưng/Bánh Tét, Ðón Giao Thừa: nhiều gia đình vẫn còn giữ tục nấu bánh chưng hay bánh tét và thức tới nửa đêm để làm Lễ Giao Thừa (Thắp nhang cúng và đốt pháo).
Tục nấu bánh chưng và bánh dầy đã có từ thời đại các Vua Hùng cách nay trên 4500 năm. Bánh chưng có hình vuông tượng trưng cho Ðất; bánh dầy tròn là biểu tượng của Trời.
Vuông Tròn vốn là đạo lý của người Việt từ xa xưa hàm ý moi người phải ăn ở với nhau sao cho sau trước vông tròn.
Bởi vậy, Vua Hùng truyền cho dân nấu bánh chưng và bánh dầy là để cúng Trời Ðất và ghi nhớ đạo lý Vuông Tròn.
Xông Ðất và Hái Lộc: Xông đất là tục chọn một người có đức hạnh hay đỗ đạt hay phát đạt tới nhà vào ngày đầu năm mới để lấy hên.
Có người tự chọn chính mình để xông nhà. Hái lộc là xuất hành sai Lễ Cúng Giao Thừa để bẻ một nhánh cây ở nơi chùa chiền, miếu mạo như là để được hên trong năm mới.
Khai Bút: các nhà Nho thường làm vài câu thơ hay câu đối gọi là Khai Xuân. Tỉ dụ câu đối:
Hùm dữ về, dân tản dần; trôi ba mươi lăm năm lẻ chưa trừ cọp hung, mấy ông kẹ sao không hổ thẹn?
Mão đỏ đội, đảng bày mẹo; hốt hàng tỉ bạc tròn đã thêm meo mốc, lũ miu miu hề chẳng mãn nguyện.
Hay thơ khai bút:
Trời xoay để dệt vần ân ái
Ðất chuyển hầu thêu ý luyến thương
Hóa Vàng: là đốt vàng mã vào ngày Mồng 3 Tết sau bữa cơm chung của toàn đại gia đình nhằm tiễn đưa những người đã khuất trở về chốn cũ.
Những tập tục kể trên đã có tựi ngàn xưa như tục cùng bánh chưng và bánh dày được ghi có từ thời đại các Vua Hùng cách nay trên 4500 năm.
Ðặc điểm vui nhất vào những ngày Tết là đốt pháo. Ở hải ngoại, pháo đốt tràn phố phường. Nhưng ở quê hương pháo bị cấm đốt vì sợ lẫn với tiếng súng đảo chánh.
Ngày Tết người ta thường chúc nhau ba chữ Phước – Lộc – Thọ. Có người còn thuê viết ba chữ này thật đẹp (thư pháp) để trang trí.
Phước Lộc Thọ là Gì
Phước, Lộc, Thọ là ba điều đại hạnh phúc mà ai cũng mong ước.
Người có Phước là người có cuộc sống no đủ, con cháu đầy đàn, vợ chồng xum hợp, không tật bịnh.
Người có Lộc là người được hưởng giầu sang, phú quý hơn người.
Người có Thọ là người khỏe mạnh sống lâu hơn người thường.
Rất ít người được hưởng đủ cả ba điều đại hạnh phúc này.
Nhưng, Phước, Lộc, Thọ từ đâu mà có? Thường người ta cho rằng: tất cả đều do chữ Thiện mà ra.
Thiện là điều lành không di hại đến bất cứ ai hay vật nào.
Thiện từ đâu mà có?
Nhà hiền triết Mạnh Tử (Trung Hoa, 372-289 Trước Tây Lịch) nêu lên “Nhân chi sơ, tính bổn thiện” (con người vốn tính thiện).
Ông nói: “Bất kỳ ai, chợt thấy một đứa bé sắp sửa té xuống giếng, tự nhiên động lòng trắc ẩn mà nhào ra cứu đứa bé. Ðó chính là do tính thiện của nhân tính.”
Tuy nhiên, một hiền triết khác, Tuân Tử (Trung Hoa, 305 – ? TTL) lại cho rằng “Nhân chi sơ, tính bổn ác” (con người vốn tính ác).
Ông cho rằng: “Tính con người vốn ác. Cái gì thiện là do con người đặt ra.
Tính con người sinh ra là hiếu Lợi.
Thuận theo tính đó thì thành ra tranh đoạt lẫn nhau mà khhông có sự tương nhượng và sinh ra đố kị.
Thuận theo tính ác đó thì thành ra tàn tặc mà lòng trung tín không có.
Thuận theo tính ác đó thì thành ra dâm loạn mà lễ nghĩa, văn lý không có.
Cho nên cần phải có thầy, có phép [có giáo dục] để cải hóa cải bản tính của con người. (xem: Lịch Sử Văn Minh Trung Hoa, của Will Durant biên soạn và Nguyễn Hiến Lê dịch; tr: 113)
Đạo Phật chỉ ra con đường Trung Đạo và cho rằng bản tính của con người bao gồm cả Thiện lẫn ác.
Làm điều thiện và bỏ điều ác là cách đưa Tâm trở về Phật tính, một trong những pháp để được giải thoát khỏi luật nhân quả, luân hồi.
*
Giai Thoại về các Nhân Vật Phúc – Lộc – Thọ
Theo truyền thuyết xuất phát từ vùng Hoa Hạ (Trung Hoa):
Ông Lộc là một quan tham chuyên ăn của đút lót.
Ông Thọ lại là vị quan thực dụng, ưa xu nịnh vua để được ban thưởng, trong dinh của ông có nhiều thê thiếp, tì nữ như một ông vua con.
Chỉ có ông Phúc là quan thanh liêm, ngay thẳng, con cháu đề huề.
Hiện nay, từ thành thị đến nông thôn, ở đâu ta cũng gặp các tượng Phúc, Lộc, Thọ. Các cụ thường được đặt ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách, trên nóc tủ chè, hay trên bàn thờ để cầu mong được phúc, được lộc, được thọ. Người giầu thì cả ba cụ bằng gốm Tàu to và đẹp. Người thường thì bằng tượng bằng gỗ hoặc sứ.
Cụ Phúc tên là Quách Tử Nghi, Thừa tướng đời Ðường. Cụ xuất thân dòng quý tộc, đồng ruộng bát ngát hàng trăm mẫu, nhưng suốt cuộc đời tham gia triều chính, cụ sống rất liêm khiết, ngay thẳng. Không vì vinh hoa, phú quý mà làm mất nhân cách con người. Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: “Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn”.
Còn theo người Hoa Hạ ở Trung Nguyên thì vợ chồng cùng tuổi là rất tốt. Họ có thể điều hòa sinh khí âm, khí dương cho nhau. Vì vậy, có thể bớt đi những bệnh tật hiểm nguy. Lại cùng tuổi nên dễ hiểu nhau, dễ thông cảm cho nhau, nên hai cụ rất tâm đầu, ý hợp. Hai cụ 83 tuổi đã có cháu ngũ đại. Lẽ dĩ nhiên phải là nam tử rồi. Cụ Phúc thường bế đứa trẻ trên tay là như vậy.
Theo phong tục của người Hoa cổ đại, sống đến lúc có cháu ngũ đại giữ ấm chân nhang của tổ tiên là sung sướng lắm! Phúc to, phúc dày lắm! Bởi thế cụ mới bế thằng bé, cháu ngũ đại, đứng giữa đời, giữa trời, nói:
– Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, ta được thế này, còn mong gì hơn nữa? Rồi cụ cười một hơi mà thác. Ðược thác như cụ mới thực sự được về cõi tiên cảnh nhàn du. Cụ bà ra ôm lấy thi thể cụ ông và chít nội than rằng:
– Tôi cùng tuổi với chồng tôi. Phúc cũng đủ đầy, dày sâu, sao giời chẳng cho đi cùng…
Ai có thể ngờ, nói dứt lời cụ bà cũng đi luôn về nơi chín suối.
Hai cụ được con cháu hợp táng. Vậy là sống bên nhau, có nhau, chết cũng ở bên nhau, có nhau. Hỏi còn phúc nào bằng? Và cụ được người đời đặt tên là Phúc.
Cụ Lộc tên thật là Ðậu Từ Quân, làm quan đến chức Thừa tướng nhà Tấn. Nhưng cụ Ðậu Từ Quân là một quan tham. Tham lắm. Cụ hưởng không biết bao nhiêu vàng bạc, châu báu, là của đút lót của những kẻ nịnh thần, mua quan, bán tước, chạy tội cho chính mình, cho con, cho cháu, cho thân tộc.
Trong nhà cụ, của chất cao như núi. Tưởng cụ Ðậu Từ Quân được như thế đã là giàu sang, vinh quang đến tột đỉnh. Cụ chỉ hiềm một nỗi, năm cụ tám mươi tuổi vẫn chưa có đích tôn. Do vậy cụ lo nghĩ buồn rầu sinh bệnh mà chết. Cụ ốm lâu lắm. Lâu như kiểu bị tai biến mạch máu não bây giờ. Cụ nằm đến nát thịt, nát da, mùi hôi thối đến mức con cái cũng không dám đến gần. Ðến khi chết, cụ cũng không nhắm được mắt. Cụ than rằng:
– Lộc ta để cho ai đây? Ai giữ ấm chân nhang cho tổ tiên, cho bản thân ta?
Còn Cụ Thọ tên là Ðông Phương Sóc, làm Thừa tướng đời Hán.
Triết lý làm quan của cụ Ðông Phương Sóc là quan thì phải lấy lộc. Không lấy lộc thì làm quan để làm gì. Cụ coi buôn chính trị là buôn khó nhất, lãi to nhất. Nhưng cụ Ðông Phương Sóc vẫn là quan liêm. Bởi cụ nhất định không nhận đút lót. Cụ chỉ thích lộc của vua ban thưởng. Ðược bao nhiêu tiền thưởng, cụ lại đem mua gái đẹp, gái trinh về làm thê thiếp. Người đương thời đồn rằng, trong dinh cụ, gái đẹp nhiều đến mức chẳng kém gì cung nữ ở cung vua.
Cụ thọ đến 125 tuổi. Nên người đời mới gọi cụ là ông Thọ. Trước khi về chốn vĩnh hằng, cụ Thọ còn cưới một cô thôn nữ xinh đẹp mới mười bảy tuổi. Cụ Ðông Phương Sóc bảo, cụ được thọ như vậy là nhờ cụ biết lấy âm để dưỡng dương. Do cụ Ðông Phương Sóc muốn có nhiều tiền để mua gái trẻ làm liều thuốc dưỡng dương, cho nên suốt cuộc đời của cụ, cụ chỉ tìm lời nói thật đẹp, thật hay để lấy lòng vua. Có người bạn thân khuyên cụ:
– Ông làm quan đầu triều mà không biết tìm lời phải, ý hay can gián nhà vua. Ông chỉ biết nịnh vua để lấy thưởng thì làm quan để làm gì?
Cụ Ðông Phương Sóc vuốt chòm râu bạc, cười khà khà bảo:
– Làm quan không lấy thưởng thì tội gì mà làm quan. Can gián vua, nhỡ ra vua phật ý, tức giận, chém đầu cả ba họ thì sao?
Cụ Ðông Phương Sóc 125 tuổi mới chịu từ giã cõi đời. Khi cụ chết thì con không còn, cháu cũng đã hết cơm hết gạo mà chắt đích phải làm ma, phải thay cha, thay ông, chở cụ nội. Vậy làm quan như cụ, thọ như cụ phỏng có ích gì?
Qua ba bức tượng Phúc, Lộc, Thọ người đời thấy, người Hoa Hạ thật là tài giỏi. Họ đã khéo xếp ba vị thừa tướng, ba tính cách khác nhau ở ba triều đại khác nhau để răn đời.
Với ba điều ước Phúc, Lộc, Thọ ấy, mấy người gom được cả ba?
Nếu bạn đọc có thể được một điều ước thì trong ba điều Phước, Lộc, Thọ; bạn sẽ ước được điều nao?
Ước Thọ mà không có tiền của rủng rỉnh hay con cái đàng hoàng thì sống lâu làm chi?
Ước Lộc, có nhiều tiền của mà không thọ hay không con cái thì tiền bạc nhiều mà làm chí?
Chỉ còn có Phước là nên ước. Nhưng muốn có phước thì giản dị là phải làm phước trước có nghĩa là phải mở rộng tấm lòng chia xẽ những gì mình có với với tha nhân. 
BỒ TÁT TÂM
– Hải Bằng.HDB