Uyển Ngữ Võ Thạnh Văn: Quốc-Nam, nhà thơ sáng tạo.
Sáng tạo là đối diện với nỗi dằn vặt khắc khoải mênh mông. Viết là sờ mặt nỗi im lặng thinh vắng cùng tận. Viết là vuốt mắt cái siêu ngã thường hay nũng nịu giận hờn trong ta, trong chính con người nghệ sĩ sáng tạo. Viết là tra vấn cội nguồn, là nghi hoặc mai sau, là đặt vấn đề vĩnh cửu. Viết là thăng bằng nội tâm và ngoại tại. Viết là triết. Tác giả ‘Quê Hương Nước Mắt’ đã vươn tới những điều đó.
Nhà thơ Uyển Ngữ / Nhiếp ảnh gia Võ Thạnh Văn: Quốc-Nam, thi sĩ sáng tạo & tư duy.
Thơ là tinh chất của nghệ thuật. Thơ là hoàng hậu của bảy bộ môn văn nghệ. Thơ khai thông ngõ bí cho văn học, triết, sử, chính trị, và kể cả tôn giáo. Làm thơ là phổ khúc hát nội tâm.
Quốc Nam đích thực là một nhà thơ. ‘Quê Hương Nước Mắt’ là một sáng tạo nghệ thuật, là một tình khúc, là ai ca bất hạnh của con người nghệ sĩ.
Qua Quê Hương Nước Mắt, thơ là tư lường, là tìm kiếm. Tìm kiếm chính ta, tìm kiếm tha nhân, tìm kiếm lẽ huyền nhiệm của tồn vong sinh tử. Viết chính là trình diện Thượng Đế, là giải bày bộc bạch, là biện hộ cho chính mình điều hơn lẽ thiệt:
Nỗi buồn vong quốc nặng,
Như đá tảng oan khiên.
(Tuổi trẻ lưu vong)
Qua Quê Hương Nước Mắt, thơ là suy tư. Suy tư là đi vào thức nghiệp, là quằn quại chấp nhận và ngờ vực chối bỏ. Viết là say sưa cật vấn. Là một nhà thơ, có trăm vạn điều để thắc mắc. Con người sáng tạo tự vác cái nghiệp thức đi vào lãnh giới văn nghệ, như vị triết nhân Lưỡng Hà Địa vác cây thập tự giác bước lên đỉnh Golgotha:
Vơi một nửa dòng đời,
Ta say cơn nắng hạ.
Giấc mộng đã xa vời,
Bờ sông xanh bỗng lạ.
(Dòng Sông Thánh Địa)
Qua Quê Hương Nước Mắt, viết là nói. Nói với người là đối thoại. Nói với chính mình là độc thoại. Đối thoại là mở. Độc thoại là khép. Mở là đi ra, khép là trở vào. Ra đi và trở về, là hai biểu tượng bi hùng của cuộc sống. Cuộc sống mà trong đó, có thi nhân xuất hiện đi về ăn nói khóc cười, buồn vui… như những hồn ma thiên cổ:
Ta hôn mê những chiều xa cố xứ.
Ly rượu nồng sao phá nổi cơn đau…
(Hãy Trở Lại Quê Hương Làm Lịch Sử)
Làm thơ là tra vấn. Nhà thơ thường tra vấn chính mình, tình yêu, thân thế, sự nghiệp. Tra vấn đưa đến băn khoăn, thao thức, mất ngủ, nuối tiếc, bỡ ngỡ, hốt hoảng. Viết là tự hành xác, là giam hãm chính mình trong nỗi cô đơn tuyệt đối cùng tận. Qua Quê Hương Nước Mắt, nhà thơ viết như tự nguyện để tang cho quê hương, bằng hữu (và một cách thiết tha bi tráng) tác giả để tang cho chính mình:
Tôi để tang quê bao năm tủi hận.
Tôi để tang đời nhục nhã lưu vong.
Tôi để tang tôi nửa đời nắng hạn.
hoặc:
Tôi ép mình trong căn nhà tưởng niệm,
Hồn vấn khăn tang đất nước nát tan.
(Vành Khăn Tang Cho Quê Hương)
Tra vấn chính ta là tra vấn lẽ thường hằng sinh tử, về nỗi khắc khoải hiện sinh. Tra vấn hiện sinh là vén màn nhìn vào siêu sinh, là từ hiện tượng nhìn về siêu tượng. Bởi đó, viết là tự thú. Tự thú về nỗi bất lực triền miên kéo dài, ám ảnh:
Tôi thèm chết trong tôi,
Một đời trai buồn tủi.
Tôi ngơ ngác nghẹn lời,
Xin cúi đầu nhận tội.
(Kẻ Đào Ngũ Của Quê Hương Khổ Đau)
Sáng tạo là đối diện với nỗi dằn vặt khắc khoải mênh mông. Viết là sờ mặt nỗi im lặng thinh vắng cùng tận. Viết là vuốt mắt cái siêu ngã thường hay nũng nịu giận hờn trong ta, trong chính con người nghệ sĩ sáng tạo. Viết là tra vấn cội nguồn, là nghi hoặc mai sau, là đặt vấn đề vĩnh cửu. Viết là thăng bằng nội tâm và ngoại tại. Viết là triết. Tác giả ‘Quê Hương Nước Mắt’ đã vươn tới những điều đó.
San Jose, California, 1986
Uyển Ngữ Võ Thạnh Văn
(Nhiếp ảnh gia, nhà thơ, nhà văn)